Chế định hôn nhân và ly hôn

Hôn nhân tự nguyện tiến bộ, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác bao hàm cả hai khía cạnh, đảm bảo quyền tự do kết hôn và tự do li hôn. Xuất phát từ chỗ tình yêu được coi là cơ sở của hôn nhân cho nên việc quyết định lựa chọn người bạn đời và đi đến hôn nhân phải là việc  của  bản thân hai bên nam  nữ. Mặt khác, khi tình yêu giữa hai bên nam nữ không còn nữa thì việc đảm bảo cho họ được tự do li hôn lại thực sự cần thiết vì như vậy là giải phóng cho họ. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác, Luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta đã ghi nhận nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, trên cơ sở này nam nữ được bình đẳng trong việc thực hiện quyền kết hôn cũng như li hôn theo quy định của pháp luật

1, Sự thể hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ qua chế định kết hôn và li hôn

1.1. Sự thể hiện nguyên tắc qua các thời kì của Luật hôn nhân và gia đình 

Nguyên tắc tự nguyện , tiến bộ trong hôn nhân đã được nhà nước ta thừa nhận là một nguyên tắc ngay từ những ngày đầu tiên thành lập nước. Điều này được thể hiện qua trong các quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình trong các giai đoạn phát triển của đất nước, cụ thể:

Trong luật hôn nhân và gia đình năm 1959 – Bộ luật đầu tiên nguyên tắc này được ghi nhận tại những quy định chung 

Điều 1

Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ.

Điều 2

Xoá bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái.

Điều 3

Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ. Cấm lấy vợ lẽ.

Luật hôn nhân năm 1987 quy định như sau:

Điều 4

Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ…cấm cưỡng ép ly hôn.

Đến Luật hôn nhân gia đình năm 2000, nguyên tắc này được quy định cụ thể và rõ ràng hơn rất nhiều, cụ thể:

Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng

Khoản 2 Điều 4 quy định:

Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi.

Điều 9. Điều kiện kết hôn 

Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.

Thực tế tự nguyện trong hôn nhân được thể hiện ở những quyền sau:

Thứ nhất, quyền tự do, tự nguyện trong kết hôn, tức là nam và nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định được kết hôn và lập gia đình một cách tự do, tự nguyện mà không bị ép buộc, cản trở.

Thứ hai, khi đã kết hôn thì vợ chồng có quyền tự do, bình đẳng đến tất cả các vấn đề nảy sinh trong đời sống gia đình, ví dụ như việc lựa chọn nơi cư trú, tổ chức cuộc sống, giáo dục con cái, quản lý tài sản... 

Thứ ba tự nguyện trong hôn nhân là sự tự nguyện, tự do và bình đẳng trong việc giải quyết chấm dứt việc kết hôn: tức là không được có bất cứ sự phân biệt đối xử ép buộc đối với bất kỳ bên trong các vấn đề như cơ sở và các thủ tục ly hôn, việc trông nom, chu cấp, nuôi dưỡng, thăm nom con cái...

Ngoài các quy định trên thì nguyên tắc hôn nhân tự nguyện cũng được quy định rải rác trong các điều, khoản tại những văn bản quy phạm pháp luật khác. 

1.2. Sự thể hiện cụ thể của nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ qua chế định kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình 2014

Dưới chế độ phong kiến, cha mẹ quyết định việc hôn nhân của con cái, cưỡng ép hôn nhân cho nên tình yêu không thể là cơ sở của hôn nhân được. Giai cấp tư sản cũng tuyên bố tự do hôn nhân. Tuy vậy, hôn nhân chỉ tự do chừng nào nào nó được xây dựng trên cơ sở tình yeu chân chính giữa nam và nữ, nghĩa là không bị tính toán vật chất, địa vị xã hội chi phối. Cần phân biệt hôn nhân tự nguyện, tự do với “tự do yêu đương”, tự do yêu đương là thứ tự do bừa bãi, phóng đãng xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân dẫn đến tự do trốn tránh trách nhiệm trước gia đình và xã hội.

Dưới chủ nghãi xã hôi, khi đã xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa thì mới có điều kiện đảm bảo hôn nhân tự do thực sự, nghĩa là hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 Điều 36 có quy định “Nam, nữ có quyền kết hôn, li hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”. Nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ trong hôn nhân được Luật hôn nhân và gia đình 2014 cụ thể hóa ở một số điều luật.

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

..

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Đây là điều kiện được ghi nhận ở cả LHNVGĐ năm 2000 và LHVGĐ 2014. Điểm b khoản 1 Điều 8 LHNVGĐ 2014 quy định “ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” . Khoản 2 Điều 9 LHNVGĐ 2000 quy định “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”. Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định: “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn”

Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí là mong muốn trở thành vợ chồng của nhau. Mỗi bên không chịu tác động của bên kia hay bất kì người nào khác khiến họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ. Sự thể hiện ý chí phải thống nhất với ý chí. Sự tự nguyện kết hôn phải thể hiện rõ là họ mong muốn được gắn bó với nhau, cùng nhau chung sống suốt đời nhằm thảo mãn nhu cầu tình cảm của 2 người, đảm bảo cho họ được tự do thể hiện ý chí và tình cảm khi kết hôn. Do đó, những người bị mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật cấm họ kết hôn. Đối với trường hợp nam nữ bị chấn động về thần kinh hoặc đang trong tình trạng say rượu, bia thì họ cũng tam thời không được đăng kí kết hôn cho đến khi hồi phục khả năng nhận biết và hoàn toàn tỉnh táo. Để đảm bảo kết hôn được hoàn toàn tự nguyện, LHNVGĐ quy định cấm việc cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn hoặc cản trở việc kết hôn.

Điều 17 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.Những người mất năng lực hành vi dân sự ( Điều 22 BLDS)  là những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình mà Toà án đã ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Tuy nhiên, khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Trước LHNVGĐ 2000 quy định đây là trường hợp cấm kết hôn, còn LHNVGĐ năm 2014 quy định đây là điều kiện kết hôn. Về bản chất thì không có sự thay đổi trong cách hiểu, tức là, theo LHNVGĐ năm 2000 thì những người không có năng lực hành vi dân sự thì bị cấm kết hôn, cò LHNVGĐ năm 2014 thì quy định “ không bị mất năng lực hành vi dân sự” là một trong những điều kiện để kết hôn. Như vậy, pháp luật không công nhận việc kết hôn của người mất năng lực hành vi dân sự. Việc quy định như vậy rất hợp lí bởi họ không thể hiện được ý chí một cách đúng đắn, chính vì vậy khó có thể đánh giá được chính xác sự tự nguyện khi tham gia vào quan hệ hôn nhân

Ngoài ra LHNVGĐ 2014 còn quy định về các trường hợp cấm kết hôn như sau:

Điểm b Khoản 2 Điều 5  LHNVGĐ 2014 quy định:

“Cấm các hành vi sau đây:

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;”

Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược         đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.

Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.

Như vậy, những hành này bị cấm là để đảm bảo nguyên tắc kết hôn giữa nam và nữ là hoàn toàn tự nguyện, họ tự do thể hiện ý chí, nguyện vọng của bản thân chứ không phải là do có sự tác động, ép buộc từ phía người khác. Quy định như vậy cũng góp phần xóa bỏ chế độ hôn nhân phụ thuộc vào cha mẹ của gia đinh phong kiến “ cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” đã tồn tại từ rất lâu và xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng hạnh phúc.

Nghị định 110/2009/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong bạo lực gia đình quy định:

"Điều 15. Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.

Điều 146, Bộ luật hình sự quy định về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.Như vậy, hành vi cưỡng ép kết hôn đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn tái phạm thì bị xử lý hình sự.

Điều 146 BLHS quy định về tội danh cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ:

“Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.”

Hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau

       + Hành hạ: là hành vi đối xử tàn ác người lệ thuộc vào mình làm cho họ đau đớn, khổ sở về thể xác như đánh đập…tuy chưa đến mức gây thương tích hoặc tổn hại đáng kể đến sức khỏe của nạn nhân nhưng diễn ra một cách có hệ thống.

       + Ngược đãi: là hành vi đối xử tồi tệ người lệ thuộc mình nhằm gây những đau khổ tinh thần kéo dài như thường xuyên mắng chửi, sỉ vả, làm nhục, đuổi ra khỏi nhà…

       + Uy hiếp tinh thần: là hành vi đe dọa dùng vũ lực gây thiệt hai đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản hoặc dùng uy lực đe dọa sẽ không cho hưởng lợi ích quan trọng, thiết thân nào đó, làm cho người bị đe dọa có căn cứ lo thực sự.

       + Yêu sách của cải: là hành vi đòi hỏi của cải như là một trong những điều kiện bắt buộc để được kết hôn như cố tình thách cưới cao một cách không bình thường làm cho bên bị thách cưới không thể lo liệu được để lấy cớ không cho kết hôn.

       + Những thủ đoạn khác: là những thủ đoạn bất hợp pháp khác có tính chất tương tự như các thủ đoạn nói trên như dùng vũ lực bắt ép người con gái phải đi theo mình trái với ý muốn của họ (trường hợp này khác với tục lệ bắt cóc cô dâu tại một số vùng dân tộc ít người ở nước ta)…

Hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ theo một trong những thủ đoạn trên chỉ bị coi là phạm tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện khi người thực hiện hành vi đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tiếp tục thực hiện hành vi này.

Như vậy, trường hợp thực hiện hành vi lừa dối người khác để người đó đồng ý kết hôn với mình tuy cũng là trường hợp vi phạm nguyên tắc tự nguyện kết hôn nhưng không bị coi là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn vì không có yếu tố cưỡng ép. Cho nên, người thực hiện hành vi nói trên sẽ không bị coi là phạm tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

Lỗi là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là người có hành vi xâm phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ - nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Trong thực tế, chủ thể của tội phạm này là người có quan hệ nhất định với người phụ nữ về mặt gia đình (bố, mẹ, anh, chị…) hoặc về mặt xã hội (thủ trưởng với nhân viên dưới quyền)…

Người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Theo Nghị  Định 126/2014/NĐ – CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình thì để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện khi kết hôn, thì cả 2 bên nam nữ khi đăng kí kết hôn ở Việt Nam hay kết hôn có yếu tố nước ngoài thì đều phải trải qua việc phỏng vấn, xác minh sự tự nguyện khi kết hôn, trong trường hợp có xuất hiện sự nghi ngờ về sự tự nguyện thì có thể phải phỏng vấn lại hoặc có sự điều tra của Sở tư pháp để xác minh làm rõ, và cơ quan có thẩm quyền có thể từ chối cấp giấy chứng nhận đăng kí kết hôn nếu có căn cứ tin rằng họ đã vi phạm điều kiện kết hôn tự nguyện hay kết hôn giả tạo không vì mục đích xây dựng gia đình và tình yêu. Cụ thể được quy định trong LHNVGĐ như sau:

“Điều 23. Trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Sở Tư pháp có trách nhiệm:

Phỏng vấn trực tiếp hai bên nam, nữ tại trụ sở Sở Tư pháp để kiểm tra, làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn, mục đích kết hôn và mức độ hiểu biết của hai bên nam, nữ về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của nhau; về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của mỗi nước. Trường hợp cần phiên dịch để thực hiện phỏng vấn thì Sở Tư pháp chỉ định người phiên dịch.Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản. Cán bộ phỏng vấn phải nêu rõ ý kiến đề xuất của mình và ký tên vào văn bản phỏng vấn; người phiên dịch (nếu có) phải cam kết dịch chính xác nội dung phỏng vấn và ký tên vào văn bản phỏng vấn;Nếu kết quả phỏng vấn cho thấy hai bên kết hôn chưa hiểu biết về hoàn cảnh của nhau thì Sở Tư pháp hẹn ngày phỏng vấn lại; việc phỏng vấn lại được thực hiện trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phỏng vấn trước;

Nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; trường hợp nghi vấn hoặc có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn thông qua môi giới nhằm mục đích kiếm lời, kết hôn giả tạo, lợi dụng việc kết hôn để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, kết hôn vì mục đích trục lợi khác hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của bên nam, bên nữ hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn thì Sở Tư pháp xác minh làm rõ.

Điều 24. Lễ đăng ký kết hôn tại Việt Nam

“Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận kết hôn, Sở Tư pháp tổ chức lễ đăng ký kết hôn.

Lễ đăng ký kết hôn được tổ chức trang trọng tại trụ sở Sở Tư pháp.

Khi tổ chức lễ đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt. Đại diện Sở Tư pháp chủ trì hôn lễ, yêu cầu hai bên khẳng định sự tự nguyện kết hôn. Nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện Sở Tư pháp ghi việc kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn, yêu cầu từng bên ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ đăng ký kết hôn và trao cho mỗi bên vợ, chồng 01 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.”

Vi phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện cũng là một trong những căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Điều 10. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này.

Theo đó, nếu người nào bị cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn tức việc kết hôn không theo ý chí của chính mình mà bị tác động, lừa dối dẫn đến kết hôn thì hoàn toàn có thể yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật đó. Đây là quy định nhằm đảm bảo đúng bản chất của sự kết hôn, bảo vệ hôn nhân đích thực.

2. Sự biểu hiện của nguyên tắc tự nguyên, tiến bộ qua chế định li hôn

2.1. Sự thể hiện của nguyên tắc qua các thời kì của Luật hôn nhân và gia đình

Sự tự nguyện, tiến bộ qua chế định li hôn đã được pháp luật nước ta quy định từ rất sớm. Ngay tại Bộ luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta – Luật hôn nhân và gia đình 1959 đã quy định về việc thuận tình li hôn của 2 bên hoặc yêu cầu li hôn của một bên

“Điều 25.

Khi hai bên vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì sau khi điều tra, nếu xét đúng là hai bên tự nguyện xin ly hôn, Tòa án nhân dân sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn.

Điều 26. 

Khi một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra và hòa giải. Hòa giải không được, Tòa án nhân dân sẽ xét xử. Nếu tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Tòa án nhân dân sẽ cho ly hôn.”

Điều này cũng được khẳng định và kế thừa trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

“Điều 40

Khi vợ hoặc chồng, hoặc cả hai vợ chồng có đơn xin ly hôn thì Toà án nhân dân tiến hành điều tra và hoà giải.

Trong trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành và nếu xét đúng là hai bên thật sự tự nguyện ly hôn, thì Toà án nhân dân công nhận cho thuận tình ly hôn.

Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành thì Toà án nhân dân xét xử. Nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không dạt được thì Toà án nhân dân xử cho ly hôn.”

Luật hôn nhân và gia đình 2000 cũng ghi nhận

“Điều 90. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thỏa thuận được hoặc tuy có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án quyết định.

Điều 91. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn.”

Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật nước ta ghi nhận nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ khi li hôn là rất sớm. Qua đó cho thấy nhà nước coi đây là một trong những nguyên tắc rất quan trọng, được thể chế hóa và kế thừa trong những quy định của LHNVGĐ kế tiếp.

2.2. Sự thể hiện của nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ qua chế định li hôn theo Luật hôn nhân và gia đình 2014

Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ cũng đồng thời phải đảm bảo tự do li hôn. Nếu như không thể bắt buộc người ta kết hôn thì cũng không thể bắt buộc họ tiếp tục chung sống cuộc sống vợ chồng, khi cuộc sống đó hoàn toàn là sự dối trá và hạnh phúc gia đình không thể hàn gắn được. Tất nhiên dự do li hôn không có nghĩa là li hôn tùy tiện. Việc li hôn phải đặt dưới sự kiểm soát của nhà nước. 

Căn cứ li hôn là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó, Tòa án mới được xử cho ly hôn. Nguyên tắc tự nguyện tiến bộ được thể hiện cụ thể, khi mà 1 bên vợ hoặc chồng hoặc cả hai đều muốn li hôn. Họ tự do thể hiện ý chí trong việc không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân hiện tại mà không chịu sự chi phối, ngăn cản hay tác động của ai. Pháp luật quy định căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên bao gồm:

“Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.”

Như vậy, trong 2 bên đều thuận tình, tự nguyện li hôn thì việc giải quyết li hôn khá đơn giản và nhanh chóng.

 “Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Thứ nhất, Khi xem xét yêu cầu ly hôn, Toà án xét việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.

Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

Cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được xác định căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như đã hướng dẫn ở trên. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Thứ hai, Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.

Vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích Thực tiễn cho thấy có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn; nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng.

Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Sau khi bản án của Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích đã có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó. Trong trường hợp này Toà án giải quyết cho ly hôn.

Như vậy, nguyên tắc tự nguyện tiến, bộ được thể hiện rõ ràng và có sự kế thừa của LHNVGĐ 2000. Đặc biệt sự tiến bộ của LHNVGĐ 2014 do với LHNVGĐ 2000 là li hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng. Tức một bên hoàn toàn có quyền xin li hôn khi bên kia có lỗi. Pháp luật vẫn ghi nhận sự tự nguyện li hôn của một bên nhưng đã tiến bộ hơn so với Luật HNVGĐ 2000.


Quý khách hàng có nhu cầu vui lòng liên hệ trực tiếp qua hotline 090.321.7988 hoặc gửi email về địa chỉ luatthienthanh@gmail.com

Công ty luật Thiên Thanh - Phòng 412, tầng 4, 142 Lê Duẩn, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, Hà Nội

Thong ke