DI SẢN THỪA KẾ BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

            Sau gần ba thập kỷ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường. Việt nam dã hình thành những điều kiện cần thiết để tiến tới một nền kinh tế thị trường đầy đủ hơn. Trong tiến trình đó việc xây dựng và hoàn thiệ quy định pháp luật là một việc không thể bỏ qua. BLDS2015 trong bối cảnh sửa đổi cũng nâng cao quyết tâm để hoàn thiện mục tiêu chung của đất nước. Mỗi chế định trong bộ luật sẽ trở thành một điểm mốc cho sự thay đổi nền tảng  là sự bắt nhịp cũng như hòa mình vào sự phát triển mới.

          Trong những chế định của pháp luật dân sự thì chế định thừa kế mang đặc thù điều chỉnh quan hệ thừa kế giữa các chủ thể và quan hệ này sẽ xuất hiện khi một cá nhân chết. Toàn bộ di sản của người chết sẽ tiếp tục được dịch chuyển cho những người thừa kế. Tuy nhiên quá trình dịch chuyển này thường tiên tốn khá nhiều thời gian. Điều này cuất phát từ ý chí của người để lại di sản, hoặc từ quy định của pháp luật thậm chí từ phía các chủ thể thừa kế, người có liên quan đến thừa kế. Bộ luật dân sự 2015 đã có những quy định mới tạo điều kiện cho việc đạt được hiệu quả mới cơ bản về đảm bảo quá trình khai thác, sử dụng di sản của người thừa kế.

           1, Một số quy định mới về thừa kế của BLDS2015

          Phần thừa kế trong bộ luật 2005 đã phát huy hiệu quả điều chỉnh các quan hệ thừa kế đảm bảo quyền lợi của các chủ thể theo nguyên tắc tự do, tự nguyện trong việc định đoạt tài sản và nhận di sản. Tuy nhiên một số quy định trong phần thừa kế của bộ luật chưa rõ, chưa cụ thể hoặc hiểu theo nhiều nghĩa, hoặc một số điều khoản nội dung quá dài mà có thể tách ra thành điều khoản khác.

         Khắc phục những bất cập trên bộ luật 2015 đã sửa đổi, bổ sung một số điểm cơ bản tại nhiều điều luật. Ngoài ra, BLDS2015 bổ sung một số nội dung mới có ảnh hưởng tích cực đến quyền của người thừa kế, đặc biệt cho phép người thừa kế chủ động trong việc khai thác, sử dụng tài sản là di sản thừa kế phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh của mình.

        * Quy định về từ chối việc hưởng di sản

        Khoản 3 Điều 642 BLDS2015 quy định việc từ chối nhận di sản phải thực hiện trong thời hạn 06 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế. Theo báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao, trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế, rất ít trong hợp người nhận di sản thực hiện việc từ chối thừa kế, rất ít trường hợp người nhận di sản thực hiện từ chối thừa kế trong 06 tháng. Có trường hợp, sau khi người để lại di sản chết vài năm, việc phân chia di sản thừa kế mới được đặt ra. Khi đó, tranh chấp về thừa kế nảy sinh, các bên đương sự mới có yêu vầu Tòa án giải quyết.

         Mặt khác, việc ràng buộc về thời hạn từ chối di sản thừa kế là 6 tháng như bộ luật cũ chưa thực sự hợp lý. Người thừa kế có quyền không nhận di sản bất cứ lúc nào cho đến khi di sản được phân chia mà không ai có thể buộc họ phải nhận, kể cả Tòa án, trừ trường hợp việc từ chối này nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với người kahsc và bảo đảm về mặt hình thức, thủ tục từ chối 06 tháng hoàn toàn không gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác như nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu quy định tại Điều 165 BLDS2005.

        Như vậy là chưa có sự thống nhất trong quy định của BLDS2005 tại các Điều 642, 195 và 165. Việc áp dụng một cách máy móc Điều 642 chỉ làm phức tạp hóa quan hệ dân sự, gây phiền phức cho người dân, chứ chưa thực sự nhằm mục đích ổn định quan hệ xã hội.

        Bên cạnh việc quy định từ chối trong 06 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế thì ngay cả BLDS2005 cũng như các văn bản khác không quy định nếu quá 06 tháng người thừa kế không muốn nhận di sản thừa kế nữa thì phải làm thủ tục gì hoặc có được nhượng di sản thừa kế mà mình được nhận cho người kahsc không, thậm chí họ vẫn cương quyết không nhận di sản thì tình trạng này của họ xét dưới góc độ pháp lý là gì? Để từ đó, xác định cũng như bảo đảm thực hiện quyền của những người thừa kế khác đối với di sản ra sao? Trình tự, thủ tục hoặc nghiệp vụ để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quyền đó của người thừa kế không muốn nhận di sản và những người thừa kế khác như thế nào?

         Trong khi đó Luật công chứng năm 2006 (đã được thay thế bằng Luật công chứng năm 2014) quy định tại khoản 1 Điều 49 : “… Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần quyền hưởng di sản của mình cho người thừa kế khác…” Với quy định này của Luật công chứng 2006, quy định của BLDS2005 về việc từ chối nhận di sản có kèm theo thời hạn rơi vào trjang thái dư thừa hoặc chỉ đúng khi những người thừa kế nghiêm túc thực hiện theo. Mà quy định như vậy, một mặt không thể bao quát được các trường hợp không nhận di sản thừa kế của người thừa kế, mặt khác không thể đảm bảo tuyệt đối hóa quyền của người thừa kế trong việc hưởng hoặc không hưởng di sản.

        Nắm bắt tinh thần đó BLDS 2015 quy định tại khoản 3 Điều 620 như sau: 

    " Điều 620 : Từ chối nhận di sản

     1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

    2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

    3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.

        Quy định này, ngoài việc giải quyết được những tồn đọng, bất cấp của một số quy định của ngành luật khác. Do đó, quy định mới này không chỉ khắc phục được hạn chế của BLDS2005 mà còn đảm bảo tốt hơn việc thực hiện quyền hưởng thừa kế của người thừa kế. Đồng thời, tạo điều kiện tối đa hóa quyền của những người thừa kế khác đối với di sản thừa kế trong việc triển khai thực hiện các quyền năng của mình đối với di sản thừa kế đó.

        Theo Điều 620 thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật có quyền từ chối nhận di sản. phần  di sản của người từ chối sẽ được chi cho những người thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật hạn chế việc từ chối nhận di sản nhằm trốn tranh nghĩa vụ với người khác. Trường hợp này cần xem xét người thừa kế có tài sản hay không. Ngược lại nếu họ có tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ thì không có quyền từ chối nhận di sản, nếu họ không có hoặc có nhưng không đủ để thực hiện nghĩa vụ đối với người khác thì có thể được phép từ chối. Khi người thừa kế từ chối nhận di sản thì phải thành lập thành văn bản, văn bản này có thể được công chứng, chứng thực hoặc văn bản do người thừa kế viết và ký. Đây là căn cứ pháp lý để xác định người thừa kế đã từ chối nhận di sản. Văn bản từ chối sẽ được chuyển cho người quản lý di sản, người thừa kế và nguwoif phân chia di sản. Người từ chối nhận di sản không phải thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến di sản và nghĩa vụ của người chết.

        Theo quy định của pháp luật thì sau khi mở thừa kế, người thừa kế có quyền chia di sản. Tuy nhiên, có thể sau một thời gian dài di sản mới chia, trong thời gian này người thừa kế có quyền thể hiện ý chí của mình nhận hoặc từ chối di sản.

        Thông thường thì thời điểm mở thừa kế và thời điểm chia di sản không trùng nhau, có nghĩa là thời điểm chia di sản được thực hiện sau khi mở thừa kế một thời hạn nhất địn. Trong thời hạn này người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, phần di sản này được chia cho người thừa kế khác.

         2, Di chúc chung của vợ chồng

        Điểm mới của BLDS 2015, quy định về di chúc chung của vợ chồng đã được bỏ hoàn toàn. Đây là một sự tiến bộ bảo đảm tính hiệu quả cao trong công việc khai thác sử dụng di sản của người thừa kế và những người có lien quan đến di sản thừa kế. Đồng thời không làm ảnh hưởng đến quyền tự định đoạt của người để lại di sản.

        - Quy định như bộ luật cũ, thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng là thời điểm bên sau cùng chết hoặc cả hai cùng chết. Với quy định này, quyền và lợi ích của người thừa kế khác người vợ hoặc chồng của người chết cũng như người có liên quan đến di sản thừa kế cô tình đã bị ảnh hưởng. Vì đặt ra trường hợp, người còn lại có thể sống lâu hơn những người thừa kế khác, hoặc thậm chí vượt qua cá mốc mà Nhà nước cho phép các chủ hể trong quan hệ thừa kế khởi kiện yêu cầu bảo đảm quyền và lợi ích của mình đối với di sản thừa kế. Trong cả khoảng thời gia đó, di sản được quản lý và khai thác, sử dụng bởi vợ hoặc chồng nguwoif còn sống có thể được gia tăng giá trị hoặc giảm đi, thậm chí không còn đến thời điểm họ chết đi. Nó rõ ràng , tính hiêu quả và phù hợp trong việc khia thác, sử dụng di sản của người thừa kế không triệt để.

     - Quy định tại một số bản Dự thảo BLDS xác định hai mốc thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng là : thời điểm một been chết trước và thời điển bên sau cùng chết cũng không thực sự giải quyết được những bất cập trong việc bảo đảm tính tuyệt đối hóa cho người thừa kế, người có liên quan đến di sản thừa kế. Có thể đặt ra một số khả năng sau : Một là, vợ hoặc chồng còn sống đã đi lập dia đình và sinh con( chưa thành niên ), sau đó người này chết người chồng hoặc người vợ mới đó yêu cầu chia di sản thừa kế thì họ và những đứa con chưa thành niên có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của d chúc không? Hai là, phần di sản kể cả của người vợ hoặc chồng trước đó cũng không còn nữa do người này lập gia đình mới đã sử dụng hết, hoặc có thể họ không lập gia đình mới nhưng vẫn sử dụng hết vì nhiều lý do khác nhau. Đó là chưa kể tới việc khai thác sử dụng tài sản của người chết để hưởng lợi nhất định từ khối di sản đó . Tất cả điều này lại ít nhiều ảnh hưởng đến quyền lợi người thừa kế trong di chúc.

     - Mục đích lớn nhất khi quy định về di chúc chung của vợ chồng, là bảo đảm di sản thừa kế luôn có sự thống nhất ý chí của vợ chồng khi định đoạt khối tài sản chung. Nhưng khi pháp luật ghi nhận “ di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” điều này có nghĩa rằng, trong trường hợp vợ, chồng cùng có nguyện vọng chuyển tài sản của mình cho người thừa kế thì họ hoàn toàn có quyền lập di chúc riêng của mình để cùng định đoạt điều đó. Rõ ràng việc làm này vẫn đạt được mong muốn, nguyện vọng của người để lại di sản lại loại bỏ được những bất cập trên

    - Phần lớn BLDS của các quốc gia trên thế giới không có quy định về di chúc chung của vợ chồng. Điều này không đồng nghãi với sự vi phjam quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tài sản của mình trước khi chết.

      Tóm lại, hướng đến tính hiệu quả, công bằng và phù hợp trên thực tré khi bảo đảm quyền hưởng cũng như khai thác di sản thừa kế của người thừa kế, quy định về di chúc chung của vợ chồng không được ghi nhận trong BLDS2015 là một điểm mới mang tính đột phá. Một mặt, khắc phục hiệu quả những bất cập, tồn đọng của BLDS2005 mặt khác tạo ra sự đơn giải hóa cho quá trình lập di chúc của người để lại di chúc, phân chia di sản và hưởng di sản của người thừa kế, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.


Quý khách hàng có nhu cầu vui lòng liên hệ trực tiếp qua hotline 090.321.7988 hoặc gửi email về địa chỉ luatthienthanh@gmail.com

Công ty luật Thiên Thanh - Phòng 412, tầng 4, 142 Lê Duẩn, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, Hà Nội

Thong ke