Điểm mới trong Bộ luật Dân sự 2015 - Quyền tự bảo vệ

Trong lĩnh vực pháp luật tài sản, khái niệm này tạo điều kiện cho cá nhân giành lại tài sản hợp pháp của mình mà không cần nhờ đến thủ tục tư pháp theo quy định. Đặc biệt, chủ nợ có bảo đảm được quyền tiến hành giữ lấy tài sản đang nằm trong tay người mắc nợ miễn là việc nắm giữ được thực hiện mà không vi phạm điều kiện phá vỡ sự bình ổn.Trong luật thực định Việt Nam, tự bảo vệ được thừa nhận trong Bộ luật Dân sự và được cụ thể hoá trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm thành quyền thu giữ tài sản.

Việt Nam thuộc số không nhiều nước chính thức thừa nhận quyền tự bảo vệ trong lĩnh vực dân sự. Quyền tự bảo vệ được chính thức thừa nhận trong luật Việt Nam từ khi có Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995. Theo Điều 263 của BLDS năm 1995, “chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”. Giải pháp này được tái khẳng định trong BLDS năm 2005 (Điều 255).

Tuy nhiên, trong suốt thời gian áp dụng các BLDS năm 1995 và 2005, quyền tự bảo vệ hầu như không thoát được trạng thái phôi thai. Không có bản án dân sự nào được tuyên liên quan đến việc thực hiện quyền này. Các văn bản lập quy cũng không đề cập đến quyền này.

Chỉ riêng trong lĩnh vực bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, các chủ nợ có bảo đảm bằng thế chấp tài sản thường phải đương đầu với thái độ thiếu thiện chí, không hợp tác của người mắc nợ: không chịu trả nợ, người này thậm chí khăng khăng nắm giữ, không chịu giao tài sản cho chủ nợ để xử lý. Nhằm hỗ trợ cho các chủ nợ có bảo đảm trong việc thực thi quyền đòi nợ, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 thừa nhận cho chủ nợ có bảo đảm quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý (Điều 63). Sau hơn 5 năm được áp dụng, Nghị định này được hoàn thiện thêm một bước bằng Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012. Việc thực hiện hai nghị định này được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên & Môi trường và Ngân hàng Nhà nước. Với quyền thu giữ, chủ nợ có bảo đảm có thể có được trong tay tài sản mình cần mà không phải tiến hành các thủ tục tố tụng phức tạp, mất thời gian và tốn kém. Trong chừng mực nào đó, có thể coi quyền thu giữ tài sản bảo đảm là sự cụ thể hoá quyền tự bảo vệ trong trường hợp đặc thù.

BLDS năm 2015 nâng quyền tự bảo vệ thành một quyền có tính nguyên tắc, được ghi nhận tại Điều 11 và được nhận dạng như một quyền hợp pháp theo các điều kiện được ghi nhận tại Điều 12. Trong lĩnh vực pháp luật tài sản, quyền tự bảo vệ được thừa nhận cho chủ sở hữu và chủ thể có quyền khác đối với tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 164: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật”.

Quyền tự bảo vệ theo luật định

Theo Điều 11 BLDS năm 2015, khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm, thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan. Với quy định rất chung như thế, người làm luật thừa nhận trên nguyên tắc, quyền tự bảo vệ có thể được thực thi mỗi khi có sự xâm hại đối với quyền dân sự. Trong khi đó, các quyền dân sự bao gồm các quyền nhân thân và các quyền tài sản. Như vậy, phạm vi thực hiện quyền tự bảo vệ ở Việt Nam rất rộng, bao gồm cả các lĩnh vực tài sản và phi tài sản.

Cụ thể, chủ thể có quyền tự bảo vệ khi danh dự, nhân phẩm của mình bị xâm hại. Chẳng hạn, trong trường hợp bị lăng nhục công khai, chủ thể có quyền phản ứng tương thích. Chủ thể cũng có quyền chống trả khi tính mạng, sức khoẻ bị xâm hại. Ở điểm này, có thể thấy nhiều nét tương đồng giữa tự bảo vệ và phòng vệ chính đáng trong luật hình. Trong chừng mực nào đó, có thể thừa nhận phòng vệ chính đáng là một trường hợp đặc thù của tự bảo vệ, được ghi nhận trong lĩnh vực hình sự.

Trong quan hệ hợp đồng, quyền tự bảo vệ cũng được thừa nhận như là một cách chế tài đối với bên vi phạm nghĩa vụ vừa ít tốn kém, dễ thực hiện, vừa có hiệu quả. Trong chừng mực nào đó, các quyền huỷ bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là các biến thể của quyền tự bảo vệ trong các trường hợp đặc thù. Trong các hợp đồng cụ thể, quyền tự bảo vệ được ghi nhận thành những hành vi ứng xử thích hợp và không trái luật. Chẳng hạn, người dùng điện, nước mà không chịu trả phí, thì nhà cung ứng có quyền tạm ngưng cung ứng dịch vụ.

Giải pháp nào cho Việt Nam trong điều kiện không có khái niệm “phá vỡ sự bình ổn”? Theo Điều 12 BLDS năm 2015, việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại Điều 3 BLDS. Thực ra Điều 3 BLDS chỉ ghi nhận những nguyên tắc rất chung và không phải nguyên tắc nào cũng áp dụng được cho việc thực thi quyền tự bảo vệ.

Chắc chắn không thể dùng quyền tự bảo vệ như một vũ khí tấn công người khác trong điều kiện chưa có ai tấn công mình trước, theo kiểu phòng vệ từ xa. Nói rõ hơn, vấn đề tự bảo vệ chỉ được đặt ra trong trường hợp chủ thể đối mặt với thái độ ứng xử không đúng mực của một người nào đó và việc tự bảo vệ được thực hiện nhằm mục đích chấn chỉnh thái độ đó, cũng như để bảo vệ các lợi ích chính đáng của mình.

Trong trường hợp bị tấn công nhắm vào tính mạng, sức khoẻ hoặc tài sản, thì có thể dùng các thành quả của quá trình hoàn thiện học thuyết về phòng vệ chính đáng trong luật hình để xây dựng giới hạn của quyền tự bảo vệ, như đã trình bày ở trên. Khó khăn có thể phát sinh trong trường hợp đối tượng bị xâm hại là danh dự, nhân phẩm. Nếu bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm trên các phương tiện truyền thông đại chúng, thì người bị xúc phạm có thể tự bảo vệ bằng cách lên tiếng cải chính trên các phương tiện truyền thông. Còn nếu bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm bằng lời nói (gọi nôm na là bị mắng chửi) ở nơi công cộng, thì thế nào là tự bảo vệ trong giới hạn? Nếu phản ứng lại bằng vũ lực, thì chắc chắn là đi quá giới hạn tự bảo vệ; còn nếu phản ứng bằng lời nói, thì khó mà đánh giá được sự cân bằng của cuộc đôi co.

Trong trường hợp đối tượng của biện pháp tự bảo vệ không tấn công mà chỉ có thái độ bất hợp tác thụ động, thì cần xây dựng bộ tiêu chí riêng cho phép nhận dạng cái gọi là tự bảo vệ chính đáng. Luật Anh – Mỹ, như đã biết, đã trải qua một quá trình phát triển dài trong việc hoàn thiện khái niệm “phá vỡ sự bình ổn”, nhưng đến nay, sự hoàn thiện chỉ ở mức tập hợp một số tiêu chí: không dựa vào công lực, không dùng vũ lực,… Cần có thời gian để luật Việt Nam hoàn thiện ở điểm này, trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm áp dụng chế định tự bảo vệ trong thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn xét xử, đồng thời vận dụng kinh nghiệm nước ngoài.

Điều quan trọng là phải nhận thấy rằng tự bảo vệ là con dao hai lưỡi; dùng không khéo, người tự bảo vệ có thể rơi vào tình trạng vi phạm pháp luật. Yêu cầu số một đối với biện pháp tự bảo vệ là phải được thực hiện một cách tỉnh táo, có chừng mực, nhất là chỉ được mang tính phòng vệ và phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm của người khác đối với lợi ích của mình. Người thuê nhà mà không chịu trả tiền nhà, thì chủ nhà có thể tự bảo vệ bằng cách không tiếp tục cho dùng điện, nước; nhưng không thể chỉ vì người thuê không chịu trả tiền nhà mà chủ nhà khoá cửa, khoá cổng không cho người thuê đi ra, đi vào nhà: làm như vậy là tự vệ vượt giới hạn, là xâm phạm quyền đi lại, quyền cư trú của công dân được hiến định.

Quyền thu giữ tài sản bảo đảm trong luật Việt Nam. Đề xuất đưa quyền thu giữ tài sản bảo đảm vào BLDS đã được đưa ra trong quá trình xây dựng BLDS (sửa đổi), nay là BLDS năm 2015. Nhưng vì nhiều lý do, đề xuất này đã không được chấp nhận.

Trong khi đó, thực tiễn ghi nhận rằng, trong trường hợp tài sản bảo đảm nằm trong tay người bảo đảm, thì bản thân lý thuyết vật quyền không tạo được ưu thế cho chủ nợ có bảo đảm so với các chủ nợ khác của người bảo đảm trong việc thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý. Chủ nợ nhận thế chấp, dù có vật quyền, không thể tiến hành thu giữ tài sản thế chấp mà không cần các thủ tục tố tụng và thi hành án. Để giúp chủ nợ nhận thế chấp tháo gỡ khó khăn trong việc xử lý tài sản thế chấp, người làm luật đặt ra chế định quyền thu giữ, được ghi nhận tại Nghị định số 63 nêu trên. Đây được cho là một công cụ cho phép chủ nợ có bảo đảm vượt lên trước so với các chủ nợ thường trong cuộc chạy đua đòi nợ trong giới hạn luật pháp cho phép. Khi BLDS năm 2015 có hiệu lực, có thể Nghị định sẽ phải được sửa đổi cho phù hợp với tinh thần của BLDS. Nhưng mong rằng, quyền thu giữ sẽ được tiếp tục thừa nhận và hoàn thiện, chứ không bị bãi bỏ.

Tuy nhiên, cũng giống như luật của Anh và Mỹ, quyền thu giữ chứa đựng nhiều rủi ro, hiểm hoạ tiềm tàng: sử dụng không hợp lý, nhất là không đúng mực, quyền này có thể trở thành một thứ bạo lực tư nhân đẩy xã hội vào tình trạng hỗn loạn, mất an toàn. Cần đặt quyền thu giữ trong một khung pháp lý chặt chẽ để quyền này phát huy được tác dụng mong muốn, nhất là không bị lạm dụng gây nguy hiểm cho xã hội.

Tư tưởng chủ đạo là chủ nợ có bảo đảm quyền trực tiếp đối với giá trị kinh tế của tài sản bảo đảm và có quyền thực hiện các việc cần thiết để giá trị này bật ra nhằm phục vụ cho việc thu nợ. Với tư tưởng đó, quyền thu giữ, mang tính chất của một quyền chấn chỉnh một hành vi sai trái – không tự giác thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Chủ nợ có bảo đảm ứng xử như thể quyền lợi của mình đang bị xâm hại do hành vi bất hợp tác của người bảo đảm.

Cụ thể, chủ nợ có bảo đảm có quyền tự mình thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý. Để làm được việc này, chủ nợ có thể triển khai lực lượng của mình tại hiện trường nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm. Lực lượng này có chức năng giữ trật tự trong quá trình thực hiện quyền thu giữ của chủ nợ. Trong trường hợp người bảo đảm có phản ứng chống đối bằng vũ lực, thì lực lượng này có quyền tự vệ trong khuôn khổ pháp luật; chủ nợ khi đó cũng có quyền yêu cầu chính quyền địa phương can thiệp theo đúng quyền hạn và trách nhiệm của nhà chức trách công để ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật của người bảo đảm. Suy cho cùng, phải có ai đó gây mất trật tự hoặc có dấu hiệu rõ ràng chuẩn bị gây mất trật tự, thì công lực mới có căn cứ pháp lý để ra tay với tư cách người chịu trách nhiệm gìn giữ, bảo đảm trật tự công cộng./.


Quý khách hàng có nhu cầu vui lòng liên hệ trực tiếp qua hotline 090.321.7988 hoặc gửi email về địa chỉ luatthienthanh@gmail.com

Công ty luật Thiên Thanh - Phòng 412, tầng 4, 142 Lê Duẩn, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, Hà Nội

Thong ke