TÓM LƯỢC NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG BLTTHS 2015 (2/2)

(tiếp)

9. Về khởi tố vụ án hình sự

BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 quy định 20 điều luật về thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm.

10. Về điều tra vụ án hình sự

BLTTHS năm 2015:

BLTTHS năm 2015 sửa theo hướng quy định chặt chẽ và cụ thể những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trung ương để một mặt tháo gỡ vướng mắc của thực tiễn, mặt khác, phù hợp với chủ trương tăng thẩm quyền cho cấp cơ sở. Theo đó, Cơ quan điều tra cấp trung ương điều tra những vụ án sau:

- Vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại;

- Vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Bổ sung và quy định cụ thể một số biện pháp điều tra (như: nhận biết giọng nói, định giá tài sản) để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

BLTTHS năm 2015 bổ sung các quy định như: phân nhóm các vấn đề cần trưng cầu giám định; quy định thời hạn giám định phù hợp với từng nhóm; xác định giá trị của kết luận giám định đối với việc giải quyết vụ án; giải quyết xung đột giữa các kết quả giám định. Đồng thời, bổ sung mới 8 điều luật để quy định các vấn đề cụ thể liên quan đến định giá tài sản trong tố tụng hình sự (Chương XV).

Lượng hóa cụ thể một số thời hạn tố tụng, thay cho các thời hạn quy định có tính định tính trong Bộ luật hiện hành (Ví dụ: phải gửi hoặc gửi ngay…).

Bổ sung một số trường hợp tạm đình chỉ điều tra nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn thời gian qua như: khi yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả mà đã hết thời hạn điều tra.
Luật hóa các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong BLTTHS Cụ thể như sau:

- Về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy địnhgồm: (1) Ghi âm, ghi hình bí mật; (2) Nghe điện thoại bí mật; (3) Thu thập bí mật dữ liệu điện tử.

- Về các trường hợp được phép áp dụng: (1) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền; (2) Các tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Về thẩm quyền áp dụng, BLTTHS năm 2015 quy định thẩm quyền áp dụng phải do Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên ra quyết định và phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Quy định trách nhiệm của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát phải kiểm tra, giám sát quá trình áp dụng các biện pháp này (Điều 225).

- Về thời hạn áp dụng: nhằm bảo đảm tính chặt chẽ trong việc quy định thời hạn áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân, đồng thời, phù hợp với đặc điểm của từng biện pháp, BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn áp dụng không quá 2 tháng kể từ ngày phê chuẩn; trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra.

- Quy định công nhận là chứng cứ đối với các thông tin, tài liệu thu được nếu quá trình áp dụng các biện pháp này tuân thủ nghiêm ngặt quy định của luật. Đồng thời, quy định rõ, các thông tin thu được chỉ sử dụng vào mục đích chống tội phạm, nghiêm cấm làm ảnh hưởng đến cá nhân, công dân.

11. Truy tố

11.1. BLTTHS năm 2015 tách các quy định có tính chất chung cho toàn bộ giai đoạn truy tố để quy định trong Chương XVIII “Những quy định chung” với các nội dung như: (1) Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố; (2) Thủ tục tiếp nhận hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra chuyển; (3) Xác định Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố; (4) Thời hạn quyết định việc truy tố; (5) Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; (6) Những trường hợp tách, nhập vụ án.

11.2. BLTTHS năm 2015 quy định Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố là Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra. Đồng thời, để xác định thẩm quyền truy tố đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát trong giai đoạn điều tra, Bộ luật quy định: Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành.

11.3. BLTTHS năm 2015 bổ sung trường hợp đặc biệt, vì lý do khách quan thì thời hạn giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can, người đại diện theo pháp luật của bị can có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.

11.4. Về thời hạn tạm giam bị cáo trong giai đoạn truy tố, BLTTHS năm 2015 chỉ cho phép áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thời hạn quyết định việc truy tố (không quá 30 ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng; không quá 45 ngày đối với tội rất nghiêm trọng; không quá 60 ngày đối với tội đặc biệt nghiêm trọng).

11.5. BLTTHS năm 2015 quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát cấp dưới phải gửi các quyết định tố tụng đến Viện kiểm sát cấp trên; quy định Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ các quyết định này nếu thấy không có căn cứ hoặc trái pháp luật.

1.6. BLTTHS năm 2015 bổ sung điều luật để quy định cụ thể các trường hợp tách, nhập vụ án. Theo đó, bên cạnh việc bảo đảm các yêu cầu chung thì việc tách vụ án chỉ được tiến hành trong 3 trường hợp (Bị can bỏ trốn; Bị can mắc bệnh hiểm nghèo; Bị can bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh); quy định 3 trường hợp có thể nhập vụ án (Bị can phạm nhiều tội; Bị can phạm tội nhiều lần; Nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có.

11.7. BLTTHS năm 2015 bổ sung điều luật để quy định cụ thể các căn cứ trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu của Viện kiểm sát nêu trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung ; quy định trường hợp Tòa án trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, nếu xét thấy có thể bổ sung chứng cứ, tài liệu thì Viện kiểm sát trực tiếp bổ sung mà không nhất thiết phải trả cho Cơ quan điều tra.

11.8. BLTTHS năm 2015 có 03 điều luật để quy định rõ hơn căn cứ Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án và quyết định phục hồi vụ án; xác định cụ thể trách nhiệm, thủ tục và thời hạn khi thực hiện các thẩm quyền này.

12. Xét xử vụ án hình sự

12.1. Về những quy định chung

Về bổ sung Chương mới quy định chung về xét xử (Chương XX)

BLTTHS năm 2015 xây dựng Chương những quy định chung, nhằm tạo điều kiện tách các quy định có tính chất chung cho cả xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm để điều chỉnh chung trong chương này, tránh trùng lặp. Cụ thể gồm các quy định: Thành phần Hội đồng xét xử; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Biên bản phiên tòa; Biên bản nghị án; Bản án; Giao, gửi bản án. Trong đó, quy định cụ thể nội dung của bản án, quyết định, các văn bản tố tụng và trách nhiệm của Tòa án trong việc giao, gửi bản án, quyết định, các văn bản tố tụng cho những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Đồng thời, mở rộng diện chủ thể được nhận các bản án, quyết định của Tòa án gồm cả bị hại, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án dân sự, trại tạm giam, trại giam nơi đang giam giữ bị cáo.

Về nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục và quy định về tạm ngừng phiên tòa

Về thời hạn tạm ngừng phiên tòa được quy định không quá 05 ngày.

Về các biện pháp Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử

Trên cơ sở quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014, Bộ luật bổ sung 2 điều luật quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và khi kiểm sát xét xử.

12.2. Về xét xử sơ thẩm (Chương XXI)

Thẩm quyền xét xử của Tòa án

BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu đối với các vụ án: (1) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài; (2) Những vụ án tuy thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; những vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.

Về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự và việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự

BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự gồm: (1) Vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội; (2) Vụ án có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của những người nêu trên hoặc gây thiệt hại đến tài sản được Quân đội cấp cho những người này để thực hiện nhiệm vụ quân sự hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội quản lý, bảo vệ.

BLTTHS năm 2015 phân định rõ thẩm quyền xét xử của Tòa án trong trường hợp bị cáo vừa phạm tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, vừa phạm tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Theo đó, trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Tòa án nhân dân xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân; trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.

Về chuyển vụ án

BLTTHS năm 2015 sửa đổi quy định về trình tự, thủ tục chuyển vụ án khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố để Viện kiểm sát này hủy bỏ quyết định truy tố và chuyển vụ án đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố. 

Trường hợp thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ sơ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do. Nếu Tòa án xét thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì tiến hành giải quyết tranh chấp theo Điều 275.

Về trả hồ sơ để điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ; và Tòa án xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ

BLTTHS năm 2015 cụ thể hóa các căn cứ Tòa án trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung trên cơ sở pháp điển hóa quy định của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 27/8/2010.

Về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử

BLTTHS năm 2015 quy định: Ngoài cơ quan tố tụng có quyền thu thập chứng cứ như hiện nay, bổ sung người bị buộc tội và người bào chữa có quyền thu thập, cung cấp chứng cứ; Quy định người bị buộc tội, người bào chữa có quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

Bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng trước khi mở phiên tòa như: yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ; yêu cầu triệu tập người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa;

Bổ sung quy định khi phát hiện quá trình khởi tố, điều tra, truy tố không bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can thì Tòa án không mở phiên tòa, trả hồ sơ để Viện kiểm sát khắc phục vi phạm;

Quy định chặt chẽ sự có mặt của bị cáo, người bào chữa tại phiên tòa;

Đổi mới trình tự và trách nhiệm xét hỏi theo hướng việc xét hỏi trước tiên phải thuộc về chủ tòa phiên tòa, sau đó chủ tọa quyết định ai hỏi trước, ai hỏi sau mà không tuân theo trình tự xét hỏi như Bộ luật hiện hành; bị cáo có quyền trực tiếp đặt câu hỏi với các bị cáo khác nếu được Chủ tọa đồng ý thay vì chỉ có quyền đề nghị Chủ tọa hỏi như hiện nay;

Khẳng định rõ nguyên tắc bản án, quyết định của Tòa án chỉ được căn cứ trên cơ sở kết quả thẩm vấn, tranh tụng và những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa.

Về giới hạn xét xử

BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định: Trường hợp thấy cần xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.

Về bảo đảm quyền của người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định

BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án thay vì từ ngày phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa như hiện nay.

Bổ sung một số thời hạn nhằm bảo đảm mọi hoạt động tố tụng phải bị ràng buộc về thời hạn như thời hạn nghị án là 07 ngày, kể từ ngày kết thúc tranh luận tại phiên tòa.

Cụ thể hóa một số thời hạn có tính định tính trong Bộ luật hiện hành bằng các thời hạn cụ thể (là 24 giờ hoặc 03 ngày kể từ khi ra quyết định), tùy thuộc vào loại quyết định và đối tượng được nhận quyết định như: Tòa án gửi quyết định phân công thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.

12.3. Về xét xử phúc thẩm

 Về người có quyền kháng cáo và thủ tục kháng cáo, nhận và xử lý đơn kháng cáo (các điều 27,331,332)

BLTTHS năm 2015 bổ sung người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người dưới 18 tuổi có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.

Quy định rõ trách nhiệm, thủ tục của Ban giám thị trại tạm giam nơi đang giam giữ bị cáo và Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm trong việc nhận, xử lý đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

Về kháng cáo quá hạn

BLTTHS năm 2015 sửa đổi quy định về xử lý đơn kháng cáo quá hạn, cụ thể: trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên họp để xem xét kháng cáo quá hạn với Hội đồng gồm ba Thẩm phán và phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.

Về Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm

BLTTHS năm 2015 quy định Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những bản án, quyết định của Toà án nhân dân cấp huyện; Toà án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những bản án, quyết định của Toà án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ; Toà án quân sự quân khu và tương đương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những bản án, quyết định của Toà án quân sự khu vực; Toà án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những bản án, quyết định của Toà án quân sự quân khu và tương đương.

Về thụ lý, chuẩn bị xét xử phúc thẩm

BLTTHS năm 2015bổ sung các điều luật quy định về thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm; chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để nghiên cứu; Quy định rõ các quyết định của Tòa án được ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm như quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm cũng như căn cứ, trình tự, thủ tục, thời hạn ra các quyết định này; Bổ sung quy định về sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm.

Về thủ tục phiên tòa, phiên họp phúc thẩm

BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung thủ tục phiên tòa phúc thẩm và phiên họp đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo hướng cụ thể, đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử và thống nhất với cách xử lý trong Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính.

Về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm

BLTTHS năm 2015 bổ sung một số thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm nhằm khắc phục vướng mắc hiện nay do Tòa án cấp phúc thẩm không có đầy đủ thẩm quyền trong việc hủy, sửa bản án sơ thẩm nên phải kiến nghị Tòa án cấp trên kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, làm kéo dài vụ án không cần thiết.

13. Xét lại bản án có hiệu lực pháp luật

 13.1. Về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm

BLTTHS năm 2015 quy định chặt chẽ căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, theo đó, chỉ kháng nghị giám đốc thẩm khi thuộc một trong ba trường hợp sau đây: (1) Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (2) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố hoặc xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; (3) Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm làm rõ trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát trong công tác giám đốc, kiểm sát việc xét xử, theo đó khi Tòa án thực hiện công tác giám đốc việc xét xử, Viện kiểm sát kiểm sát việc xét xử hoặc qua các nguồn thông tin khác mà phát hiện thấy những vi phạm pháp luật trong bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì thông báo ngay bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Về thẩm quyền giám đốc thẩm và thành phần Hội đồng giám đốc thẩm

BLTTHS năm 2015 quy định Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Toà án quân sự trung ương bị kháng nghị; Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực; Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Quy định thành phần Hội đồng giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao (Hội đồng gồm 03 Thẩm phán và Hội đồng toàn thể); thành phần Hội đồng giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Hội đồng gồm 05 Thẩm phán và Hội đồng toàn thể). Đồng thời, quy định cụ thể phạm vi, thẩm quyền xét xử của các Hội đồng này.

Về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm

Ngoài ba thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm trong Bộ luật hiện hành, BLTTHS năm 2015 bổ sung: (1) Thẩm quyền hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa cho đồng bộ với thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm dân sự, hành chính; (2) Thẩm quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để phù hợp với thực tiễn giám đốc thẩm thời gian qua, có những trường hợp chứng cứ đã rõ ràng, có thể khắc phục ngay mà không nhất thiết hủy án để điều tra lại, làm kéo dài thời hạn tố tụng.  

13.2. Về thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

* BLTTHS năm 2015: bổ sung thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bởi vì trên thực tế, qua hoạt động giám sát của Quốc hội đã phát hiện có trường hợp quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vẫn có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, cần phải được xem xét lại. Trong Chương này của Bộ luật quy định rõ về những người có thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; thành phần tham dự phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị; thủ tục, thời hạn mở phiên họp và thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; thông báo kết quả phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bổ sung thủ tục này cũng bảo đảm đồng bộ với Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính.

14. Thủ tục đặc biệt

Ngoài 04 thủ tục đặc biệt trong Bộ luật hiện hành (thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên; thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; thủ tục rút gọn; khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự), BLTTHS năm 2015 bổ sung 03 thủ tục đặc biệt: (1) Thủ tục bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và những người tham gia tố tụng khác để kịp thời bảo vệ họ khi có nguy cơ bị đe dọa tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản; (2) Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân để đồng bộ với Bộ luật hình sự (sửa đổi); (3) Thủ tục xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự.

So với quy định của BLTTHS năm 2003, Phần này có những sửa đổi, bổ sung quan trọng sau đây:

14.1. Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên

Thay đổi quy định “người chưa thành niên” thành “người dưới 18 tuổi” vì hiện nay Dự án “Luật bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em” đang được sửa đổi, trong đó có phương án điều chỉnh tuổi “trẻ em”. Việc thay đổi như BLTTHS nhằm bảo đảm tính ổn định của Bộ luật.

Sửa đổi phạm vi áp dụng của Chương này theo hướng không chỉ áp dụng với người dưới 18 tuổi là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như hiện hành mà còn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi là người bị hại, người làm chứng.

Quy định cụ thể 07 nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi; điều kiện và yêu cầu đối với người tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự.

Bổ sung quy định cụ thể nhằm xác định tuổi của người chưa thành niên là người làm chứng, là người bị hại trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà không xác định được chính xác tuổi của họ.

Đổi mới thủ tục lấy lời khai, hỏi cung và tiến hành đối chất người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự theo hướng quy định chặt chẽ việc tiến hành lấy lời khai, hỏi cung; địa điểm, thời gian lấy lời khai, hỏi cung phải bảo đảm phù hợp với tâm lý, thể trạng người dưới 18 tuổi. Thời gian lấy lời khai, hỏi cung không quá hai lần trong một ngày và mỗi lần không quá hai giờ. Việc đối chất người dưới 18 tuổi chỉ được tiến hành trong những trường hợp thực sự cần thiết để giải quyết vụ án.

Điều chỉnh căn cứ tạm giam theo hướng chỉ áp dụng các biện pháp này khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không có hiệu quả; rút ngắn thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổitheo hướng chỉ bằng 2/3 thời hạn tạm giam đối với người trên 18 tuổi.

Bộ luật hình sự (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua bổ sung quy định về các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, gồm 03 biện pháp: khiển trách; hòa giải tại cộng đồng; giáo dục tại xã, phường, thi trấn. Để phù hợp với Bộ luật hình sự (sửa đổi), BLTTHS năm 2015 bổ sung 05 điều luật để quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp nêu trên.

14.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

Quy định mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng. Tại thời điểm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà pháp nhân không có người đại diện theo pháp luật hoặc có nhiều người cùng là đại diện theo pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định một người đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng.

Quy định pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng như người bị buộc tội. Các quyền và nghĩa vụ tố tụng này được thực hiện thông qua người đại diện.

Các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân gồm 03 biện pháp: a) Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;b) Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;c) Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;d) Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.

Tòa án có thẩm quyền xét xử với pháp nhân được quy định là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm.

14.3. Thủ tục rút gọn

Về phạm vi và điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

- Về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn: BLTTHS năm 2015 sửa đổi phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn, theo đó, thủ tục rút gọn được áp dụng đối với cả giai đoạn xét xử phúc thẩm, mà không chỉ đối với giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm như hiện nay.

- Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn:

BLTTHS năm 2003 quy định gồm 04 điều kiện:(1) Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; (2) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; (3) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; (4) Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng.

BLTTHS năm 2015 mở rộng điều kiện được áp dụng đối với trường hợp người phạm tội tự thú. Bộ luật quy định chỉ áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm khi có một trong các điều kiện: a) Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo; b) Vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

- Quy định cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải áp dụng thủ tục rút gọn khi có đủ điều kiện luật định .

Về các thủ tục tố tụng cụ thể

Tổng thời hạn điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử sơ thẩm được nâng lên là 35 ngày (thay vì 23 ngày như hiện hành). Giản lược một số thủ tục để phù hợp với tính chất của thủ tục rút gọn. Cụ thể là:

- Thủ tục tạm giữ, tạm giam được áp dụng theo quy định chung, nhưng thời hạn tạm giữ chỉ quy định không quá ba ngày, kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra không quá 20 ngày, trong giai đoạn truy tố không quá 5 ngày, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm không quá 17 ngày, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm không quá 22 ngày.

- Kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát. Thời hạn giao, gửi quyết định đề nghị truy tố là 24 giờ.

- Trường hợp Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can thì thời hạn giao, gửi quyết định truy tố, chuyển hồ sơ cho Tòa án là 24 giờ.

- Về thụ lý và xét xử sơ thẩm, việc thụ lý vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện theo thủ tục chung. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Tạm đình chỉ vụ án; Đình chỉ vụ án. Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải mở phiên toà xét xử vụ án. Trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án thì Tòa án hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

- Phiên tòa sơ thẩm do một Thẩm phán tiến hành. Sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát công bố quyết định truy tố. Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa được thực hiện theo thủ tục chung, trừ thủ tục nghị án.

- Về thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm, việc thụ lý vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện theo thủ tục chung. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 5 ngày, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm; Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án. Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải mở phiên toà xét xử vụ án.

- Việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành. Phiên tòa phúc thẩm được tiến hành theo thủ tục chung, trừ thủ tục nghị án.

14.4. Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự

Quy định 13 nhóm hành vi bị xử lý gồm: (1) Làm giả, huỷ hoại chứng cứ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ việc, vụ án; (2) Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật; (3) Từ chối khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu, đồ vật; (4) Người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định, định giá tài sản mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan; (5) Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối; (6) Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người bị hại tham gia tố tụng hoặc buộc người bị hại khai báo gian dối; (7) Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định, định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định, định giá kết luận sai với sự thật khách quan; (8) Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch, người dịch thuật thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch, người dịch thuật dịch gian dối; (9) Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia tố tụng; (10) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đe doạ, sử dụng vũ lực hoặc có hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; (11) Đã được triệu tập mà vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho hoạt động tố tụng; (12) Ngăn cản việc cấp, giao, nhận hoặc thông báo văn bản tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; (13) Vi phạm nội quy phiên tòa.

Quy định chế tài áp dụng đối với người có hành vi vi phạm: tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp giải, dẫn giải, phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính, buộc khắc phục hậu quả hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

14.5. Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

Để tăng cường hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn quyền của người khiếu nại, tố cáo trong  tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung theo hướng:

Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức VKSND năm 2014 (bổ sung VKSND cấp cao, Tòa án nhân dân cấp cao

Quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng (Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án) thay vì cách quy định là thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) như BLTTHS năm 2003.

Bổ sung, quy định cụ thể hơn thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo như: trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới; ban hành kết luận kiểm sát; thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án khắc phục vi phạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Bổ sung quyền của họ được thông qua người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người đại diện thực hiện quyền khiếu nại

Rút ngắn thời hạn giải quyết tố cáo từ 60 ngày xuống 30 ngày (đối với vụ việc phức tạp, rút ngắn từ 90 ngày xuống còn 60 ngày); bổ sung thời hạn khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu là 03 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.

14.6. Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

BLTTHS năm 2015 bổ sung một chương mới quy định về: (1) Trách nhiệm bảo vệ; (2) Những người được bảo vệ; (3) Các biện pháp bảo vệ; (4) Quyền và nghĩa vụ của người được bảo vệ; (5) Yêu cầu, đề nghị áp dụng các biện pháp bảo vệ; (6) Chấm dứt việc bảo vệ; (7) Hồ sơ bảo vệ.

Các biện pháp bảo vệ được quy định trong BLTTHS năm 2015bao gồm: (1) Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ; (2) Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ; (3) Giữ bí mật và yêu cầu những người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; (4) Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lai lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ; (5) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật; (6) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.

15. Hợp tác quốc tế

BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau:

Quy định phạm vi hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự

BLTTHS năm 2015 bổ sung: tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác quốc tế khác.

Về biện pháp ngăn chặn

BLTTHS năm 2015: Quy định 04 biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong quá trình xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ gồm: (1) Bắt tạm giam; (2) Cấm đi khỏi nơi cư trú; (3) Tạm hoãn xuất cảnh; (4) Đặt tiền để bảo đảm. Đồng thời, quy định cụ thể căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn nêu trên.

Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể hơn các vấn đề như: (1) Xác định nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; (2) Vấn đề áp dụng pháp luật; (3) Cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự; (4) Việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; (5) Việc tiến hành tố tụng của người có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài và ngược lại; (6) Giá trị pháp lý của chứng cứ được thu thập qua hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; (7) Trình tự, thủ tục xử lý trường hợp từ chối dẫn độ công dân Việt Nam; (8) Xử lý tài sản do phạm tội mà có, phối hợp điều tra, áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt.

16. Lưu ý Nghị quyết thi hành  BLTTHS 2015

Ngày 27/11/2015, cùng với việc thông qua BLTTHS, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 110/2015/QH13 về việc thi hành BLTTHS. Một số nội dung trong nghị quyết thi hành cần được lưu ý như sau:

1. Đối với những vụ án đang được thụ lý, giải quyết theo BLTTHS năm 2003 nhưng đến ngày 01/7/2016 chưa kết thúc thì thẩm quyền giải quyết tiếp tục áp dụng theo quy định của BLTTHS năm 2003, còn các vấn đề khác (như trình tự, thủ tục, thời hạn…) áp dụng theo BLTTHS năm 2015.

2.Đối với những bị can, bị cáo đang bị tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2016 thời hạn tạm giam bằng hoặc vượt quá thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát, Tòa án quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam đang áp dụng hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Theo quy định của BLTTHS năm 2015 (Điều 173, Điều 419), thời hạn tạm giam đối với bị can là người thành niên: rút ngắn 01 tháng đối với tội nghiêm trọng; rút ngắn 02 tháng đối với tội rất nghiêm trọng; rút ngắn 04 tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng. Thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên được quy định không quá 2/3 thời hạn tạm giam đối với người thành niên.

Để thực hiện quy định này, đề nghị Viện kiểm sát các cấp rà soát các trường hợp bị can hiện đang tạm giam, phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra đẩy nhanh tiến độ giải quyết, sớm kết thúc vụ án.

3. Đối với một số thời hạn mà BLTTHS năm 2015 quy định dài hơn (gồm: Thời hạn kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Thời hạn điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Thời hạn áp dụng thủ tục rút gọn) nếu vụ án đang trong quá trình giải quyết mà đến ngày 01/7/2016 chưa thể kết thúc thì được tính theo thời hạn của BLTTHS năm 2015.

4. Một số quy định mới của BLTTHS năm 2015 cần được sớm quan tâm, bố trí dự toán kinh phí, trang thiết bị để bảo đảm thực hiện:

- Bị can có quyền đọc, ghi chép bản sao hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu (Điều 60).

- Bổ sung trách nhiệm của Kiểm sát viên bắt buộc phải có mặt trong 05 hoạt động: đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét (các điều 189, 190, 191, 193, 204).


Quý khách hàng có nhu cầu vui lòng liên hệ trực tiếp qua hotline 090.321.7988 hoặc gửi email về địa chỉ luatthienthanh@gmail.com

Công ty luật Thiên Thanh - Phòng 412, tầng 4, 142 Lê Duẩn, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, Hà Nội

Thong ke