VỀ THỜI HIỆU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

     Nhìn nhận chung, tại nhiều cùng miền địa phương trên phạm vi cả nước, người dân thường có tâm lý ngại va chạm với các thủ tục pháp lý, đặc biệt những thủ tục liên quan đến di sản thừa kế. Mà với họ, quan nhiệm những giá trị tài sản như quyền sử dụng đất và nhà ở sẽ thuộc về những người con trai hoặc trưởng nam trong dòng họ. Do đó khi một người qua đời nếu không có tranh chấp phát sinh thì chính di sản đó sẽ được kế thừa đời này qua đời khác.

    Tâm lý chung xuất phát từ xã hội mang tính đạm nét văn hóa truyền thống của người Việt là trọng tình cảm nên một người sau khi chết hiếm chia tài sản luôn, thời gian trôi qua đôi khi nhiều xích mích tranh chấp phát sinh.

    Thực trạng xã hội dẫn tới những tồn đọng sau:

    - Di sản không được phân chia mà truyền từ đời này sang đời khác. Rất có thể, thế hệ tiếp sau đó khi nhận thức của hộ về vấn đề hưởng di sản thừa kế chưa được rõ ràng – họ sẵn sàng tranh chấp, lúc này việc xác định di sản thừa kế gặp nhiều khó khăn…

    - Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp về thừa kế đất đai

     Thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 645 BLDS2005 là 10 năm cho việc yêu cầu chi di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác và 3 năm cho việc yêu cầu những người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại từ thời điểm mở thừa kế và được cụ thể hóa tại Nghị định 02/2004/NQ-HĐTP.

     - Cả khoảng thời gia trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về thừa kế, khối di sản thừa kế hoàn toàn có thể được gia tăng hoặc giảm sút về mặt giá trị.

     Một trong những mục tiêu của lần sửa đổi này của BLDS chúng ta hướng tới việc bảo đảm tối đa hóa quá trình khai thác, sử dụng di sản cả người thừa kế. Sẽ không phủ nhận việc ai đó sử dụng tài sản để tạo ra những lợi ích vật chất. Vì di sản chính là tài sản có thể khai thác được, sử dụng mang lại những giá trị vật chất.

     Nắm bắt được tinh thần đó BLDS 2015 ra đời thay đổi khoảng thời gian của thời hiệu cũng như giải quyết được việc phân chia di sản khi kết thúc khoảng thời gian thời hiệu đó. Cụ thể tại Điều 623 BLDS 2015 quy định :

      - Thời hiệu khỏi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất dộng sản kể từ thời điểm mở thừa kế.

      - Hết thời hạn này di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

      - Khi không có người thừa kế đang quản lý di sản : - Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu một cách ngay tình, liên tục, công khai, nếu việc chiếm hữu phù hợp với quy định của pháp luật, - Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu như trên.

      Với quy định này, BLDS 2015 đã giải quyết được một số tồn đọng như đã phân tích. Đúng với tinh thần của việc sử đổi lần này gắn với mục tiêu phát triển quan hệ thị trường, một trong những điều kiện qua trọng, cần thiết bên cạnh việc bảo vệ quyền sở hữu thì phải phát huy vai trò của những người không phải là chủ sở hữu. Điểm mới quan trọng nhất của quy định trên là ghi nhận vai trò của người thừa kế đang quản lý di sản, việc khai thác, sử dụng di sản của người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai theo quy định của pháp luật. Quy định này thực sự ý nghĩa và phù hợp cả từ góc độ pháp lý đến góc độ thực tiễn. Việc họ khai thác, sử dụng, quản lý di sản trong khoảng thời gian 30 năm phải được ghi nhận địa vụ pháp lý của họ với tư cách là chủ sở hữu tài sản đó. Có như vậy, ý nghĩa vật lý, vau trò của tài sản mới được bảo đảm thực sự dưới góc độ pháp lý.

      Bản chất của thừa kế dưới góc độ pháp lý là sự quy định và bảo đảm thực hiện quá trình dịch chuyển di sản của người chết cho những người còn sống. Cả quá trình này có thể dài hoặc ngắn về mặt thời gia đôi khi phụ thuộc vào chính những người thừa kế, người để lại di sản thừa kế hoặc theo pháp luật quy định. Nhưng cho dù ở phương diện nào thì việc bảo đảm cho chủ thể hợp pháp khai thác tài sản mới là điều thực sự cần thiết.

      Một số điểm mới trong quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của BLDS 2015

      1. Sự thay đổi về cơ cấu

     Trong BLDS2005, các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm 27 điều luật, nhưng trong BLDS 2015 số lượng điều luật quy định giảm xuống còn 25 điều, việc giảm 2 điều không đồng nghĩa với việc các nội dung quy định pháp luật bị cắt giảm đi, mà nội dung các quy định còn được mở rộng hơn so với bộ luật cũ. Sự thay đổi này cho thấy, các quy định pháp luật đã được lồng ghép và thiết kế lại nhằm bảo đảm sự phù hợp và không trùng lặp nội dung với các quy định khác nhau.

      Về các mục trong chương XX “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của BLDS 2015 không có sự  thay đổi so với BLDS 2005 tuy nhiên, cơ cấu các điều luật trong mỗi mục có sự thay đổi. Cụ thể như sau:

     Thứ nhất, quy định về “Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra” đã được chuyển lên Mục 1 ( Những quy định chung) và thiết kế thành một điều luật độc lập, thay vì quy định ở Mục 3 ( Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể) như trong BLDS 2005.

    Thứ hai, quy định về “Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi” đã được chuyển thành một trong những nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong Mục 1 ( Những quy định chung) chứ không còn là một điều luật độc lập trong Mục 3 (Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể) như trong BLDS 2005.

    Thứ ba, quy định về “ Bồi thường hiệt hại do cán bộ, công chức gây ra” và “Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra” trong BLDS 2005 đã đưuọc kết cấu lại thành một quy định chung với tên gọi mới là “ Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra”.

     2, Những nội dung mới được sửa đổi, bổ sung

     a, Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

    BLDS 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại khoản 1 Điều 584 theo hướng “ người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dựu, nhân phẩm. uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp phá của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Đây là một điểm mới so với BLDS2005. Quy định này cho thấy yếu tố lỗi không phải là yếu tố quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một chủ thể nhất định. Chỉ cần chủ thể có hành vi gây thiệt hại thì dù có lỗi hay không có lỗi, lỗi cố ý hay vô ý thì đều phải chịu trách nhiệm bồi thường. Quy định này đòi hỏi trong hoạt động thực hiện thực tiễn các quyền và nghĩa vụ của mình, các chủ thể phải tự nâng cao ý thức trong việc tôn trọng các quyền về tài sản và nhân thân của người khác. Mọi hành vi của một chủ thể đều có thể khiến họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản.

    BLDS 2015 đưa ra các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người gây thiệt hại, được áp dụng đối với mọi trường hợp. Cụ thể, khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 quy định: “ Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Trong BLDS 2005, có căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường được xác định ở tùng trường hợp cụ thể.

     Thiệt hại xảy ra có thể do hành vi của cá nhân, pháp luân và có thể do tài sản gây ra. Do vậy, BLDS 2015 đã quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra tại khoản 3 Điều 584 : “ Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 điều này.” Đây là quy định mới có tính khái quát cao mà trong BLDS 2005 không đề cập tới, quy định này giúp cho các chủ thể mở rộng được các trường hợp có thể yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi tài sản của một chủ thể nhất định. Quy định này cũng mặc định suy đoán lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản. Theo quy định này, không cần biết chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản có lỗi hay không thì khi tài sản gây thiệt hại họ vẫn phải bồi thường thiệt hại nếu không có căn cứ loại trừ trách nhiệm. Do đó, mọi sự bất cẩn trong việc chiếm hữu tài sản phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định. Quy định này đặt ra yêu cầu cho các chủ thể trong việc quản lý, sử dụng tài sản có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, bảo đảm không xâm phạm tới các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác.


Quý khách hàng có nhu cầu vui lòng liên hệ trực tiếp qua hotline 090.321.7988 hoặc gửi email về địa chỉ luatthienthanh@gmail.com

Công ty luật Thiên Thanh - Phòng 412, tầng 4, 142 Lê Duẩn, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, Hà Nội

Thong ke