Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, thời hiệu khởi kiện luôn là một trong những vấn đề pháp lý phức tạp nhất. Đặc biệt, đối với các quan hệ thừa kế được mở trước khi Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 có hiệu lực hoặc có yếu tố người Việt Nam định cư ở nước ngoài, việc xác định thời hiệu không thể chỉ căn cứ vào Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 mà phải áp dụng đồng thời các quy định chuyển tiếp và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
Bản án phúc thẩm số 55/2025/DS-PT ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội là một ví dụ điển hình.
Khái quát nội dung vụ án:
Theo hồ sơ vụ án, cụ Vũ Đình H11 (cụ H11) và cụ Phạm Thị X (cụ X) có 08 người con gồm: Bà Vũ Thị H4, ông Vũ Đình H12 (ông H12 chết năm 2002, có vợ là bà Nguyễn Thị T1 và 02 người con là anh Vũ Đình H2, anh Vũ Đình H3), bà Vũ Thị H6, bà Vũ Thị H7, ông Vũ Đình H8, ông Vũ Đình H, ông Vũ Đình H13 (chết không có vợ, không có con), ông Vũ Đình H9. Cụ H11 qua đời năm 1974, cụ X mất năm 2001, cả hai đều không để lại di chúc. Sau khi cha mẹ qua đời, các con tiếp tục quản lý và sử dụng các thửa đất do cha mẹ để lại.
Đến ngày 11/11/2022, ông Vũ Đình H khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế đối với ba thửa đất có nguồn gốc của cha mẹ để lại, đồng thời yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Vũ Đình H2, ông Vũ Đình H3 và tuyên vô hiệu các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có liên quan đến các thửa đất trên. Trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn (ông H2 và ông H3) không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng chỉ có thửa đất số 135 là của cụ H11 và cụ X để lại, còn hai thửa đất 517 và 518 có nguồn gốc là của ông H12, không phải là di sản thừa kế của cụ H11 và cụ X.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 135 tờ bản đồ số 2 diện tích theo hiện trạng là 221,7m2. Chấp nhận sự tự nguyện sáp nhập tài sản là di sản thừa kế của ông H9 vào tài sản chung vợ chồng với bà H10. Di sản thừa kế cụ H11 và cụ X để lại là 221,7m2 đất ở có giá trị 1.077.462.000đ. Xác định công sức duy trì thửa đất của ông H9 bà H10 là 11,7m2 đất ở. Di sản hai cụ để lại còn 210m đất ở. Cụ H11 được quyền sử dụng 84m2 đất ở. Cụ X được quyền sử dụng 126m2 đất ở. Phần di sản của cụ H11 hết thời hiệu giao cho ông H9 bà H10 tiếp tục quản lý sử dụng. Phần di sản của cụ X chia đều cho 07 đồng thừa kế, mỗi đồng thừa kế được hưởng 18m đất ở tương đương với giá trị 87.480.000đ. Tòa án bác yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không chấp nhận tuyên vô hiệu 02 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được thiết lập vào ngày 10/6/2019 giữa bà Nguyễn Thị T1 với ông H2 và ông H3.
Tòa án cấp sơ thẩm quyết định như trên là do không thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến di sản là căn nhà trên đất tại thời điểm cụ H11 chết, không xác định tại thời điểm mở thừa kế của cụ H11 còn có ½ giá trị căn nhà tranh 5 gian, nhận định hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế di sản của cụ H11 là chưa phù hợp quy định của pháp luật. Từ đó xác định phần di sản thừa kế của cụ H11 tại thửa đất số 136 sau này được tách thành các thửa đất số 517, 518 và thửa đất số 135 tờ bản đồ số 02 đứng tên cụ H11 (vợ là cụ X) hết thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của anh H3, anh H2; Xác định thửa đất số 517, thửa đất số 518 và một phần thửa đất số 135 diện tích 84m² không còn là di sản thừa kế nên thuộc quyền sử dụng của anh H2, anh H3, ông H9 là người đang quản lý di sản là không đúng quy định của pháp luật.
Từ việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ H11 dẫn đến xác định di sản thừa kế, chia di sản thừa kế và giải quyết đối với yêu cầu tuyên vô hiệu 02 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được thiết lập vào ngày 10/6/2019 giữa bà Nguyễn Thị T1 với anh Vũ Đình H3, anh Vũ Đình H2 không đúng quy định của pháp luật như trên.
Không đồng ý với phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án. Sau khi nghiên cứu hồ sơ và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định rằng cấp sơ thẩm đã mắc sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật về thời hiệu, dẫn đến việc xác định sai phạm vi di sản, sai đối tượng tài sản cần chia và kéo theo hàng loạt nhận định sai. Vì vậy, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã ra quyết định hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Thời hiệu – vấn đề pháp lý quyết định toàn bộ kết quả vụ án
Trong vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng thời điểm khởi kiện vào ngày 11/11/2022 đã vượt quá thời hiệu chia di sản đối với bất động sản của người để lại di sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (tính từ thời điểm cụ H11 chết năm 1974). Nên chỉ chấp nhận chia một phần di sản, đồng thời bác các yêu cầu liên quan đến hai thửa đất còn lại và không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cách tiếp cận này tưởng như phù hợp nếu chỉ nhìn vào quy định chung của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm cho rằng đây là một cách áp dụng pháp luật chưa đầy đủ, bởi quan hệ thừa kế trong vụ án được xác lập trước thời điểm Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 có hiệu lực và còn có yếu tố người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng như sau:
Sai lầm thứ nhất: Không áp dụng đúng quy định chuyển tiếp về thời hiệu khởi kiện vụ án chia di sản thừa kế
Một nguyên tắc cơ bản của pháp luật thừa kế là thời hiệu phải được xác định theo pháp luật có hiệu lực tại thời điểm mở thừa kế hoặc theo quy định chuyển tiếp do pháp luật quy định, chứ không thể áp dụng trực tiếp quy định hiện hành cho mọi trường hợp. Đối với trường hợp người để lại di sản chết trước ngày 10/9/1990, Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xác định thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990, thay vì tính từ thời điểm người để lại di sản chết. Đây là quy định mang tính chuyển tiếp nhằm bảo đảm quyền khởi kiện của các đồng thừa kế trong bối cảnh trước khi Pháp lệnh Thừa kế được ban hành chưa có cơ chế pháp lý thống nhất về thời hiệu. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tính thời hiệu trực tiếp từ năm 1974 đã làm thay đổi hoàn toàn kết quả giải quyết vụ án.
Sai lầm thứ hai: Bỏ qua quy định loại trừ thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án chia di sản thừa kế
Điểm đặc biệt của vụ án này là một trong những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đang cư trú tại Ba Lan. Tình tiết này làm phát sinh việc áp dụng khoản 2 Điều 39 Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, theo đó đối với tranh chấp thừa kế có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia, thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/9/2006 không được tính vào thời hiệu khởi kiện (10 năm 2 tháng). Quy định này tiếp tục được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn tại Mục I Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất trong hoạt động xét xử. Như vậy, sau khi xác định đúng thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và loại trừ khoảng thời gian hơn mười năm không được tính vào thời hiệu, Hội đồng xét xử kết luận rằng quyền khởi kiện của nguyên đơn vẫn còn, đồng nghĩa với việc toàn bộ nhận định của cấp sơ thẩm về việc “hết thời hiệu” là không chính xác.
Hệ quả pháp lý của việc xác định sai thời hiệu
Trong tranh chấp thừa kế, thời hiệu không chỉ là điều kiện để Tòa án thụ lý yêu cầu mà còn là cơ sở xác định phạm vi xem xét của Tòa án. Khi cấp sơ thẩm cho rằng đã “hết thời hiệu” khởi kiện để chia di sản thừa kế là bất động sản (30 năm), Tòa án đã không xem xét đầy đủ đối với hai thửa đất đang tranh chấp, không đánh giá lại tính hợp pháp của việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không xem xét toàn diện hiệu lực của các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Nói cách khác, mọi kết luận tiếp theo của bản án sơ thẩm đều được xây dựng trên tiền đề của một nhận định pháp lý không chính xác. Khi tiền đề đó bị bác bỏ thì toàn bộ hệ thống lập luận của bản án cũng không còn giá trị. Đây chính là lý do Hội đồng xét xử phúc thẩm lựa chọn giải pháp hủy toàn bộ bản án sơ thẩm thay vì sửa án.
Giá trị thực tiễn của bản án
Từ góc độ hành nghề luật sư, bản án này mang lại nhiều giá trị tham khảo quan trọng.
Thứ nhất, không phải mọi vụ án thừa kế đều áp dụng máy móc Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu khởi kiện. Đối với các trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/9/1990, luật sư cần rà soát các quy định chuyển tiếp, đặc biệt là Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và các nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán.
Thứ hai, khi vụ án có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cần kiểm tra kỹ các quy định đặc thù về thời hiệu. Chỉ cần bỏ sót khoảng thời gian không tính vào thời hiệu theo Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 cũng có thể dẫn đến việc xác định sai quyền khởi kiện của các đồng thừa kế.
Thứ ba, bản án một lần nữa khẳng định rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là chứng cứ tuyệt đối để xác lập quyền sử dụng. Trong tranh chấp thừa kế, Tòa án phải xem xét kỹ về nguồn gốc hình thành tài sản, quá trình quản lý, sử dụng và căn cứ phát sinh quyền trước khi kết luận tài sản thuộc sở hữu riêng hay là di sản chưa được phân chia.
Kết luận
Bản án phúc thẩm số 55/2025/DS-PT không chỉ sửa một sai sót về kỹ thuật tính thời hiệu mà còn thể hiện nguyên tắc quan trọng trong áp dụng pháp luật: việc giải quyết tranh chấp thừa kế phải đặt trong đúng bối cảnh lịch sử của quan hệ pháp luật. Các quy định chuyển tiếp, các văn bản hướng dẫn và các yếu tố đặc thù của từng vụ án có thể làm thay đổi hoàn toàn kết quả giải quyết.
Đối với luật sư và người hành nghề pháp lý, đây là lời nhắc rằng trong các vụ án thừa kế có lịch sử kéo dài hàng chục năm, việc nghiên cứu đầy đủ các quy định qua từng thời kỳ là yêu cầu bắt buộc. Chỉ một sai sót trong việc xác định thời hiệu cũng có thể khiến toàn bộ bản án bị hủy và vụ án phải giải quyết lại từ đầu.
Bài viết được thực hiện bởi Trần Đức Vĩnh – Luật sư tại Công ty Luật Thiên Thanh
Hotline/Zalo : 090.321.7988
Email : [email protected]
Hoặc đến trực tiếp văn phòng của Chúng tôi tại:
Hà Nội : Phòng 302, tầng 3, 142 Lê Duẩn, phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội
Hồ Chí Minh : Phòng 6.16 RiverGate Residence, số 151 – 155 đường Bến Vân Đồn, Phường Khánh Hội, Hồ Chí Minh
