Trong hoạt động lập pháp, dù được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn và dự báo nhu cầu điều chỉnh của xã hội, pháp luật vẫn không thể bao quát và dự liệu đầy đủ mọi tình huống có thể phát sinh trong thực tiễn. Đây là giới hạn khách quan của kỹ thuật lập pháp, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình – nơi các quan hệ pháp luật gắn liền với quyền nhân thân, yếu tố tình cảm và lợi ích của những chủ thể, đặc biệt là với trẻ em.
Trong thực tiễn giải quyết các vụ việc về nuôi con nuôi, một trong những khoảng trống pháp lý từng gây ra nhiều tranh luận là trường hợp người nhận nuôi là người độc thân chết trong khi Luật Nuôi con nuôi năm 2010 không quy định đây là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi. Điều này dẫn đến một nghịch lý trong áp dụng pháp luật, nếu tiếp tục duy trì quan hệ nuôi con nuôi thì quan hệ pháp lý đó không còn chủ thể để thực hiện quyền và nghĩa vụ; nhưng nếu chấm dứt quan hệ này thì Tòa án lại đứng trước một khoảng trống của pháp luật. Vấn đề đặt ra là: trong trường hợp pháp luật chưa có quy định trực tiếp, Tòa án nên lựa chọn cách giải quyết nào để vừa bảo đảm tính hợp pháp, vừa bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của trẻ em?
Chính từ yêu cầu giải quyết vướng mắc đó, Án lệ số 84/2026/AL được công bố, không nhằm tạo ra một căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi mới, mà căn cứ vào các quy định mang tính nguyên tắc của pháp luật về “quyên nhân thân” đế giải quyết vụ việc. Giá trị của án lệ không chỉ nằm ở kết quả giải quyết một vụ việc cụ thể mà còn ở việc xác lập nguyên tắc: khi áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình, Tòa án phải đặt lợi ích tốt nhất của trẻ em làm trung tâm của mọi quyết định, kể cả trong những trường hợp pháp luật chưa có quy định trực tiếp.
Tóm tắt nội dung án lệ:
Ông Ngô Thành M (ông M) và bà Cao Thị G (bà G) đãng ký kết hôn ngày 12/8/2004 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Vợ chồng ông M và bà G có 03 (ba) người con chung, trong đó có cháu Ngô Phát T (cháu T), sinh ngày 04/01/2011. Sau khi sinh cháu T, ông M và bà G đồng ý cho bà Ngô Ngọc T1 (là chị ruột của ông M) nhận cháu T làm con nuôi. Việc cho, nhận con nuôi đã được thực hiện đúng thủ tục và ghi nhận tại Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 28/01/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.
Ngày 16/9/2020, bà T1 chết. Sau khi bà T1 chết, ông M và bà G có nguyện vọng đón cháu T về nuôi; đồng thời, xác lập lại môi quan hệ cha mẹ đẻ và con đẻ, nên đã nộp đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà T1 và cháu T. Vì sự kiện bà T1 chết không thuộc một trong các trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điểu 25 và Điểu 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 nên Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu câu của ông M và bà G là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông M, bà G đã làm ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến quyền lợi của cháu Ngô Phát T.
Ở giai đoạn giám đốc thẩm, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp cận vụ việc theo một hướng hoàn toàn khác. Hội đồng giám đốc thẩm cho rằng quyền nhận nuôi con nuôi là quyền nhân thân gắn liền với chính người nhận nuôi, vì vậy khi người nhận nuôi qua đời thì chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi cũng không còn tồn tại. Trong hoàn cảnh đó, việc tiếp tục duy trì quan hệ nuôi con nuôi chỉ còn mang tính hình thức, trong khi lại cản trở việc khôi phục đầy đủ quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, đại diện hợp pháp của cha mẹ đẻ đối với trẻ em. Từ nhận định này, Hội đồng giám đốc thẩm đã chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi và khôi phục toàn bộ quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đối với cháu T.
Lập luận trên sau đó được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn phát triển thành Án lệ số 84/2026/AL. Điều đáng chú ý là Hội đồng Thẩm phán không cho rằng các cấp xét xử trước đã áp dụng sai pháp luật. Ngược lại, Hội đồng xác định rằng các Tòa án cấp dưới đã áp dụng đúng quy định tại Điều 25 và Điều 13 Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Điều đó cho thấy vấn đề của vụ việc không nằm ở việc hiểu sai hay áp dụng sai quy định của pháp luật, mà nằm ở khoảng trống của pháp luật trước một tình huống thực tiễn mà nhà làm luật chưa thể dự liệu trước.
Từ hướng giải quyết của Hội đồng Thẩm phán, có thể thấy vụ việc xoay quanh một số vấn đề pháp lý trọng tâm sau đây:
Vấn đề pháp lý thứ nhất: Việc duy trì quan hệ nuôi con nuôi khi người nhận nuôi không còn là chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ
Theo lập luận của Hội đồng Thẩm phán, quyền nhận nuôi con nuôi là quyền nhân thân gắn liền với chính người nhận nuôi và không thể chuyển giao cho chủ thể khác. Do đó, khi người nhận nuôi là cá nhân độc thân qua đời thì chủ thể của quan hệ pháp luật nuôi con nuôi cũng không còn tồn tại, đồng nghĩa với việc không còn ai có thể tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi đối với con nuôi. Trong bối cảnh đó, việc duy trì quan hệ nuôi con nuôi về mặt pháp lý không còn đáp ứng được mục đích của chế định này, bởi các nghĩa vụ cốt lõi như chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, đại diện theo pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích của trẻ đều không thể được thực hiện. Trên cơ sở đó, Hội đồng Thẩm phán cho rằng việc tiếp tục duy trì quan hệ nuôi con nuôi trong trường hợp này chỉ còn mang ý nghĩa hình thức, không còn giá trị thực chất trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người con nuôi.
Vấn đề pháp lý thứ hai: cần căn cứ vào các quy định mang tính nguyên tắc để giải quyết vụ việc trong trường hợp pháp luật chưa có quy định
Không chỉ dừng lại ở việc phân tích quy định của Điều 25 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Hội đồng Thẩm phán còn đặt vụ việc trong tổng thể các nguyên tắc của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đặc biệt là nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em. Từ cách tiếp cận này, Hội đồng Thẩm phán xác định rằng mặc dù pháp luật chưa quy định trực tiếp trường hợp chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi khi người nhận nuôi là cá nhân độc thân qua đời, nhưng việc áp dụng pháp luật cần hướng tới mục đích của chế định nuôi con nuôi là bảo đảm môi trường chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục ổn định cho trẻ. Nếu tiếp tục duy trì quan hệ nuôi con nuôi trong khi người mẹ nuôi đã qua đời thì cha, mẹ đẻ cũng không thể khôi phục đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con theo quy định của pháp luật, dẫn đến khoảng trống về chủ thể thực hiện quyền đại diện, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ. Vì vậy, Hội đồng Thẩm phán đã lựa chọn căn cứ vào các quy định mang tính nguyên tắc để giải quyết vụ việc trong trường hợp pháp luật chưa có quy định để chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc khôi phục đầy đủ quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đẻ, qua đó bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người con nuôi. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với nguyên tắc xuyên suốt được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Trẻ em cũng như các điều ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên.
Hệ quả pháp lý của việc áp dụng các quy định mang tính nguyên tắc để giải quyết vụ việc
Từ việc xác định đúng bản chất của quan hệ nuôi con nuôi và xem xét vụ việc trên cơ sở bảo đảm quyền, lợi ích tốt nhất của trẻ em, Hội đồng Thẩm phán đã chấp nhận yêu cầu chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi giữa bà Ngô Ngọc T1 và cháu Ngô Phát T, qua đó khôi phục lại đầy đủ quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đối với con. Phán quyết này nhằm bảo đảm cho cháu T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình ruột thịt, phù hợp với các nguyên tắc bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật hôn nhân và gia đình.
Điểm đáng chú ý là kết quả này không xuất phát từ việc bổ sung hay sửa đổi các trường hợp chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi được quy định tại Điều 25 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, bởi việc ban hành hoặc sửa đổi quy phạm pháp luật không thuộc thẩm quyền của Tòa án. Thay vào đó, trước thực tế pháp luật chưa có quy định trực tiếp điều chỉnh trường hợp cha, mẹ nuôi đã chết nhưng việc tiếp tục duy trì quan hệ nuôi con nuôi không còn bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em, Hội đồng Thẩm phán đã áp dụng các quy định mang tính nguyên tắc để giải quyết vụ việc.
Cách tiếp cận vụ việc và giải quyết vụ việc ở trên cho thấy phán quyết của Hội đồng Thẩm phán không nhằm bổ sung hay đặt ra quy phạm pháp luật mới mà hướng đến việc làm rõ nội dung, ý nghĩa và phạm vi áp dụng của các quy định hiện hành đối với trường hợp mà pháp luật chưa dự liệu được. Qua đó, không chỉ bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật mà còn góp phần nâng cao khả năng vận hành linh hoạt của hệ thống pháp luật trước các tình huống mới phát sinh trong thực tiễn, đồng thời bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, đặc biệt là quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Giá trị thực tiễn của án lệ:
Từ góc độ thực tiễn xét xử và hành nghề luật sư, Án lệ số 84/2026/AL có giá trị định hướng quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc tương tự, đặc biệt đối với những trường hợp pháp luật chưa có quy định điều chỉnh trực tiếp. Không chỉ giải quyết thỏa đáng vụ việc cụ thể, án lệ còn góp phần thống nhất nhận thức và phương pháp áp dụng pháp luật của Tòa án khi xử lý các khoảng trống pháp lý phát sinh trong thực tiễn.
Thứ nhất, án lệ khẳng định nguyên tắc rằng việc pháp luật chưa có quy định điều chỉnh trực tiếp không phải là căn cứ để Tòa án từ chối giải quyết yêu cầu của đương sự. Trong trường hợp tồn tại khoảng trống pháp lý, Tòa án có trách nhiệm áp dụng pháp luật trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật, bảo đảm việc giải quyết vụ việc phù hợp với mục đích của chế định pháp luật có liên quan và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Qua đó, án lệ khẳng định vai trò chủ động của Tòa án trong việc bảo đảm công lý và tính hiệu quả của hoạt động xét xử.
Thứ hai, án lệ làm rõ rằng nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em không chỉ mang ý nghĩa định hướng chính sách mà còn là nguyên tắc có giá trị áp dụng trực tiếp trong quá trình áp dụng pháp luật. Đối với những trường hợp pháp luật còn khoảng trống hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau, việc áp dụng các quy định mang tính nguyên tắc để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất của trẻ em là cách tiếp cận phù hợp với mục đích của chế định nuôi con nuôi, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Trẻ em và các điều ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên.
Thứ ba, án lệ góp phần hoàn thiện thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các trường hợp chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi mà Luật Nuôi con nuôi năm 2010 chưa quy định, cụ thể là trường hợp người nhận nuôi là cá nhân độc thân qua đời. Thông qua việc xác lập hướng giải quyết thống nhất, án lệ tạo cơ sở để các Tòa án vận dụng nhất quán khi giải quyết các vụ việc có tình tiết tương tự, qua đó bảo đảm tính thống nhất trong xét xử và nâng cao tính dự đoán của pháp luật. Đồng thời, những lập luận được ghi nhận trong án lệ cũng cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho hoạt động nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi trong thời gian tới, góp phần khắc phục những khoảng trống pháp lý và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Kết Luận:
Án lệ số 84/2026/AL đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy áp dụng pháp luật của Tòa án Việt Nam đối với những trường hợp pháp luật còn khoảng trống. Thay vì tiếp cận theo hướng máy móc, giới hạn trong nội dung của Điều 25 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Hội đồng Thẩm phán đã vận dụng các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật, đặc biệt là nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, để xác định hướng giải quyết phù hợp với mục đích của chế định nuôi con nuôi. Cách tiếp cận này không làm phát sinh một quy định mới để chấm dứt việc nuôi con nuôi mà chỉ làm sáng tỏ nội hàm và phạm vi áp dụng của các quy định hiện hành trong bối cảnh pháp luật chưa dự liệu đầy đủ.
Từ góc độ hành nghề luật sư và nghiên cứu pháp lý, Án lệ số 84/2026/AL cho thấy việc phân tích và áp dụng pháp luật không thể chỉ dừng lại ở việc viện dẫn các quy định cụ thể của luật mà phải đặt các quy định đó trong mối liên hệ với mục đích điều chỉnh của các chế định và các nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật. Đây không chỉ là phương pháp giải quyết hiệu quả các vụ việc có khoảng trống pháp lý mà còn là định hướng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng, xét xử và góp phần hoàn thiện pháp luật.
Bài viết được thực hiện bởi Trần Đức Vĩnh – Luật sư tại Công ty Luật Thiên Thanh
Hotline/Zalo : 090.321.7988
Email : [email protected]
Hoặc đến trực tiếp văn phòng của Chúng tôi tại:
Hà Nội : Phòng 302, tầng 3, 142 Lê Duẩn, phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội
Hồ Chí Minh : Phòng 6.16 RiverGate Residence, số 151 – 155 đường Bến Vân Đồn, Phường Khánh Hội, Hồ Chí Minh
