Trong bối cảnh xã hội hiện đại, xu hướng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, việc thiếu vắng “tờ giấy chứng nhận kết hôn” đồng nghĩa với việc các cặp đôi không được pháp luật bảo hộ đầy đủ về các quyền và nghĩa vụ hôn nhân. Bài viết này sẽ phân tích dưới góc độ pháp lý về tình trạng pháp lý và phương án giải quyết tranh chấp tài sản đối với trường hợp này.
- Không công nhận quan hệ vợ chồng
Theo Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, quan hệ hôn nhân hợp pháp chỉ được xác lập khi thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trừ các trường hợp có yếu tố lịch sử đặc biệt (chung sống trước ngày 03/01/1987 hoặc từ 03/01/1987 đến 01/01/2001 đáp ứng các điều kiện pháp lý nhất định), thì kể từ ngày 01/01/2001, pháp luật Việt Nam không công nhận quan hệ vợ chồng đối với các cặp đôi không đăng ký kết hôn.
Hệ quả trực tiếp bao gồm:
Không phát sinh quan hệ vợ chồng: Không có quyền yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn mà một bên khó khăn túng thiếu và có lý do chính đáng, không có quyền thừa kế theo diện hàng thừa kế thứ nhất khi một bên qua đời; Không được bảo vệ quyền lợi về tài sản chung như vợ chồng hợp pháp.
Không áp dụng thủ tục ly hôn: Khi mâu thuẫn xảy ra, các bên không thể thực hiện thủ tục ly hôn tại Tòa án. Thay vào đó, nếu có tranh chấp, các bên phải khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết “không công nhận quan hệ vợ chồng”, đồng thời giải quyết các vấn đề tài sản, nuôi con và cấp dưỡng con chung như các quan hệ dân sự thông thường.
- Nguyên tắc giải quyết tài sản chung và tranh chấp
Dù không được công nhận là vợ chồng, tài sản hình thành trong quá trình chung sống vẫn được pháp luật bảo hộ dựa trên thoả thuận giữa hai bên và các quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.
Theo Điều 16 Luật HNGĐ 2014, khi nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, việc giải quyết tài sản sẽ áp dụng theo nguyên tắc thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, Tòa án sẽ xem xét và giải quyết dựa trên:
- Các quy định về quyền sở hữu tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan:
- Nếu tài sản có giấy tờ sở hữu đứng tên một người thì người đó được công nhận là chủ sở hữu. Người không đứng tên trên giấy tờ sở hữu (nhà đất, sổ tiết kiệm, v.v.) muốn chia tài sản buộc phải cung cấp bằng chứng chứng minh mình có đóng góp thực tế vào việc tạo lập, duy trì tài sản đó.
- Nếu có chứng cứ chứng minh tài sản là của chung (cả hai cùng đóng góp mua sắm), Tòa án sẽ phân chia theo mức đóng góp của từng người.
- Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên:
- Nếu một bên chứng minh được mình có đóng góp lớn hơn vào khối tài sản chung, Tòa án có thể xem xét chia tài sản theo tỷ lệ tương ứng.
- Trường hợp một bên ở nhà nội trợ, chăm sóc gia đình và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập điều đó có thể được xem xét như một đóng góp vào khối tài sản chung.
- Giải quyết nợ chung:
Trách nhiệm trả nợ được xác định dựa trên sự tham gia của các bên vào giao dịch dân sự: Nếu hai bên có khoản nợ chung phát sinh trong thời gian chung sống mà không có đăng ký kết hôn, việc trả nợ sẽ được giải quyết theo nguyên tắc:
- Nếu cả hai cùng đứng tên khoản nợ hoặc có thỏa thuận vay nợ chung thì cả hai phải có trách nhiệm trả nợ.
- Nếu chỉ một bên vay và bên kia không tham gia hay hưởng lợi, chỉ bên vay có trách nhiệm trả nợ.
Từ những phân tích nêu trên có thể khẳng định nam nữ sống chung mà không đăng ký kết hôn sẽ không được pháp luật công nhận là vợ chồng, không có các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng hợp pháp.
Tài sản chung sẽ được giải quyết theo pháp luật dân sự, dựa vào thỏa thuận của các bên nếu không có thoả thuận thì xem xét công sức đóng góp của các bên. Đặc biệt, khi tranh chấp xảy ra, người không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ tiết kiệm, các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản khác… mà có yêu cầu chia tài sản chung thì phải có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh tài sản đó là tài sản chung của cả hai thì mới có căn cứ để toà án xem xét việc chia tài sản.
Bài viết được thực hiện bởi Nguyễn Thị Tình – Luật sư tại Công ty Luật Thiên Thanh
Hotline/Zalo : 090.321.7988
Email : [email protected]
Hoặc đến trực tiếp văn phòng của Chúng tôi tại:
Hà Nội : Phòng 302, tầng 3, 142 Lê Duẩn, phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội
Hồ Chí Minh : Phòng 6.16 RiverGate Residence, số 151 – 155 đường Bến Vân Đồn, Phường Khánh Hội, Hồ Chí Minh
