Không ít cặp vợ chồng lựa chọn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để thuận tiện cho hoạt động đầu tư, kinh doanh hoặc quản lý tài sản. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng sau khi chia tài sản thì mọi tài sản phát sinh sau đó đều trở thành tài sản riêng. Đây là cách hiểu chưa hoàn toàn chính xác vì một số vấn đề sau.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, trong trường hợp tài sản phát sinh từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng sau khi việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực mà không thể xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng thì tài sản đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Quy định này được xây dựng nhằm xử lý các trường hợp tài sản có nguồn gốc hỗn hợp, khó xác định chính xác căn cứ hình thành. Tuy nhiên, trên thực tế, tiêu chí “không xác định được” lại mang tính định tính, thiếu cơ sở pháp lý cụ thể để áp dụng thống nhất. Pháp luật hiện hành không đưa ra tiêu chí hay phương pháp chứng minh nhằm phân biệt thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng. Điều này dẫn đến việc cơ quan có thẩm quyền có thể đưa ra những cách hiểu và cách đánh giá chứng cứ khác nhau đối với cùng một sự kiện pháp lý, làm giảm tính dự đoán và tính thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật.
Đặc biệt, trong bối cảnh hoạt động đầu tư và kinh doanh ngày càng đa dạng, việc xác định nguồn gốc của tài sản phát sinh sau khi chia tài sản chung càng trở nên phức tạp. Chẳng hạn, một bên vợ hoặc chồng sử dụng phần tài sản riêng được chia để thành lập doanh nghiệp, góp vốn đầu tư hoặc mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khoản lợi nhuận thu được trong trường hợp này thường là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như giá trị của tài sản đầu tư, trình độ quản lý, công sức lao động, điều kiện thị trường, uy tín thương mại và các yếu tố khách quan khác. Do đó, rất khó tách bạch phần giá trị nào được hình thành từ việc khai thác tài sản riêng và phần giá trị nào được tạo ra từ hoạt động lao động, quản lý hoặc sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu. Mặt khác, quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP còn chưa thực sự thống nhất với Điều 40 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điều 40 xác định nguyên tắc rằng kể từ thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực, phần tài sản đã được chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên thuộc sở hữu riêng của người đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Trong khi đó, khoản 3 Điều 14 lại mặc nhiên xác định tài sản là tài sản chung khi không thể phân biệt được nguồn gốc hình thành. Cách quy định này có thể làm thu hẹp phạm vi tài sản riêng của vợ hoặc chồng so với tinh thần của Điều 40 Luật Hôn nhân và Gia đình, đồng thời tạo ra sự thiếu thống nhất giữa văn bản luật và văn bản hướng dẫn thi hành.
Hotline/Zalo : 090.321.7988
Email : [email protected]
Hoặc đến trực tiếp văn phòng của Chúng tôi tại:
Hà Nội : Phòng 302, tầng 3, 142 Lê Duẩn, phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội
Hồ Chí Minh : Phòng 6.16 RiverGate Residence, số 151 – 155 đường Bến Vân Đồn, Phường Khánh Hội, Hồ Chí Minh
