Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa và triển khai các dự án hạ tầng diễn ra mạnh mẽ hiện nay, việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội là điều không hiếm gặp. Đối với nhiều gia đình, đặc biệt là những bậc cha mẹ già, mảnh đất không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là tài sản tích lũy lớn nhất cả đời để lại cho con cháu. Khi có thông tin thu hồi, tâm lý chung của các cụ là muốn lập ngay di chúc để định đoạt số tiền đền bù nhằm ổn định gia đình, tránh tranh chấp sau này. Thế nhưng, một bài toán pháp lý hóc búa đặt ra: Khi cơ quan nhà nước mới chỉ ban hành Quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, nhưng tiền mặt chưa được chi trả, liệu người dân có quyền lập di chúc để định đoạt số tiền này hay không? Hay họ phải đợi đến khi cầm được tiền mặt trong tay?
Để giải quyết thấu đáo vấn đề này, cần phân tích bản chất pháp lý của “khoản tiền đền bù đất” dưới góc độ của luật dân sự, luật đất đai và thực tiễn xét xử.
Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng, phần tài sản trong tài sản chung và các quyền về tài sản. Đồng thời, Điều 105 và Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng làm rõ: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.
Chiếu theo quy định của Luật Đất đai năm 2024, tại thời điểm Quyết định thu hồi đất và Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và có hiệu lực pháp luật, một hiệu ứng pháp lý kép lập tức phát sinh: Quyền sử dụng đất của người dân chính thức chấm dứt để chuyển giao lại cho Nhà nước, đồng thời người bị thu hồi đất được xác lập quyền yêu cầu cơ quan nhà nước chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ theo đúng phương án đã duyệt. Kể từ thời điểm này, quyền sử dụng đất đã chính thức chuyển hóa thành quyền yêu cầu nhận tiền đền bù. Dù dòng tiền chưa thực tế chi trả, thì quyền yêu cầu này vẫn là một quyền tài sản hiện hữu, trị giá được bằng tiền và thuộc sở hữu hợp pháp của người có đất bị thu hồi.
Cơ sở pháp lý cho cách hiểu này không chỉ xuất phát từ các quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai mà còn được khẳng định trong định hướng xét xử của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua Án lệ số 34/2020/AL. Tình huống của án lệ chỉ ra rằng, khi Nhà nước thu hồi đất và đã ban hành quyết định bồi thường bằng tiền, nếu người có đất bị thu hồi chết trước khi nhận tiền thì quyền sử dụng đất đã chuyển đổi thành quyền tài sản – đó là quyền nhận tiền bồi thường. Án lệ số 34/2020/AL xác lập nguyên tắc: Quyền nhận tiền bồi thường này là quyền tài sản trị giá được bằng tiền và cấu thành di sản thừa kế của người chết. Sự kết hợp giữa Luật Đất đai hiện hành và Án lệ 34/2020/AL chính là chiếc chìa khóa pháp lý bảo đảm cho người dân hoàn toàn có đầy đủ năng lực lập di chúc định đoạt khối di sản này ngay sau khi có quyết định thu hồi.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại các tổ chức hành nghề công chứng hiện nay lại gặp không ít rào cản. Do tâm lý e ngại rủi ro và cách hiểu máy móc, một số công chứng viên thường từ chối công chứng di chúc khi người dân chỉ xuất trình Quyết định thu hồi đất mà chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đã bị thu hồi hoặc nộp lại) hoặc chưa có tiền mặt. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người dân, Luật Thiên Thanh đưa ra giải pháp xử lý kỹ thuật khi soạn thảo nội dung di chúc như sau:
Giải pháp soạn thảo tối ưu từ Luật Thiên Thanh: Trong nội dung di chúc, không nên ghi định đoạt một số tiền mặt cụ thể (vì chưa nhận), cũng không ghi định đoạt quyền sử dụng đất (vì đất đã bị thu hồi). Thay vào đó, nội dung di chúc cần được định danh chính xác theo tinh thần Án lệ số 34/2020/AL là:
“Định đoạt toàn bộ quyền tài sản là quyền nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phát sinh từ Quyết định thu hồi đất số… ngày… và Phương án bồi thường số… ngày… do Ủy ban nhân dân… ban hành.”
Bên cạnh việc định danh chính xác đối tượng của di chúc, để bảo đảm văn bản này có giá trị chứng cứ cao nhất và không bị tuyên vô hiệu sau này, người dân cần tuân thủ một quy trình chặt chẽ gồm ba yếu tố cốt lõi:
- Xác lập căn cứ tài sản – Yếu tố hồ sơ.
Người lập di chúc phải thu thập và lưu trữ đầy đủ các văn bản pháp lý gồm: Quyết định thu hồi đất, Phương án bồi thường chi tiết đã được phê duyệt có tên của mình, cùng các giấy tờ nhân thân (CCCD, Giấy đăng ký kết hôn để xác định tài sản chung/riêng).
- Bảo đảm tính tự nguyện và minh mẫn – Yếu tố năng lực.
Do người lập di chúc thường là bố mẹ già, cần bảo đảm tại thời điểm lập, họ hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối hay ép buộc. Nếu cần thiết, nên đi khám sức khỏe tại bệnh viện để có kết luận bằng văn bản của bác sĩ đính kèm vào hồ sơ di chúc.
- Thực hiện công chứng hoặc chứng thực – Yếu tố hình thức.
Dù luật cho phép lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng, nhưng đối với loại di sản đặc thù đang trong quá trình chuyển hóa này, người dân bắt buộc hoặc nên ưu tiên thực hiện công chứng tại Văn phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp xã để bảo đảm tính khách quan và an toàn pháp lý tuyệt đối.
Tóm lại, quyền lập di chúc định đoạt tiền bồi thường đất khi mới có quyết định thu hồi là một quyền dân sự hợp pháp, bảo vệ quyền định đoạt tài sản hợp pháp của công dân. Việc nhìn nhận đúng bản chất của quyền tài sản này theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2024 và định hướng của Án lệ số 34/2020/AL, kết hợp với một giải pháp kỹ thuật soạn thảo chuẩn xác, không chỉ giúp các bậc cha mẹ già an lòng, hoàn thành tâm nguyện mà còn là lá chắn pháp lý vững chắc ngăn ngừa những tranh chấp rạn nứt tình cảm gia đình trong tương lai.
