Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, nguyên tắc suy đoán pháp lý luôn ưu tiên bảo vệ tối đa quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, thực tế phát sinh không ít trường hợp người vợ mang thai và sinh con với người khác trong thời kỳ hôn nhân, dẫn đến xung đột pháp lý phức tạp: Liệu người chồng trên giấy tờ có quyền từ chối nhận con hay không? Và người chồng có được quyền yêu cầu ly hôn ngay khi phát hiện sự việc hay không?
Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể các khía cạnh pháp lý xoay quanh vấn đề này dựa trên Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
- Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân
Theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về nguyên tắc xác định cha, mẹ:
“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
- Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”
Như vậy, pháp luật Việt Nam áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý: Bất kỳ đứa trẻ nào sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp đều mặc nhiên được ghi nhận là con chung của hai vợ chồng.
Người chồng không thể tự ý từ bỏ trách nhiệm làm cha chỉ bằng lời nói, thỏa thuận miệng hay cam kết nội bộ giữa hai bên. Nếu người chồng không thừa nhận đứa trẻ là con ruột của mình, việc không nhận con bắt buộc phải tuân theo thủ tục tố tụng và có Quyết định/bản án có hiệu lực của Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
- Trình tự, thủ tục yêu cầu Tòa án xác định không phải là cha con
Căn cứ quy định tại Khoản 10 Điều 29, Điều 35 và điểm t Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, việc người chồng yêu cầu xác định mình không phải là cha của đứa trẻ thuộc thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người yêu cầu cư trú hoặc làm việc.
Để thực hiện thủ tục này, người chồng cần chuẩn bị hồ sơ gồm:
- Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự (Yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ cha con);
- Chứng cứ chứng minh không cùng huyết thống: Văn bản/kết luận giám định gen (xét nghiệm ADN) từ cơ quan, tổ chức giám định có thẩm quyền;
- Giấy tờ hộ tịch liên quan: Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn của vợ chồng, Giấy chứng sinh hoặc Giấy khai sinh của trẻ;
- Các tài liệu, chứng cứ khác, văn bản xác nhận khác: Chứng minh việc người mẹ mang thai con người khác không phải con của người chồng.
Khi Tòa án ban hành quyết định xác định người chồng không phải là cha đẻ của đứa trẻ, quyết định này là căn cứ pháp lý để thực hiện các thủ tục cải chính hộ tịch tại cơ quan đăng ký quản lý hộ tịch, đồng thời chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa người chồng và đứa trẻ.
- Người chồng có quyền yêu cầu ly hôn ngay lập tức không?
Đây là vướng mắc rất phổ biến khi người chồng phát hiện vợ phản bội và sinh con cho người khác. Dù về mặt tình cảm và đạo đức, sự việc gây bức xúc nghiêm trọng, nhưng về mặt pháp luật, quyền yêu cầu ly hôn của người chồng bị hạn chế bởi quy định tại Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:
“Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
Đặc điểm pháp lý cần lưu ý:
- Quy định tại Khoản 3 Điều 51 mang tính chất tuyệt đối nhằm bảo đảm quyền sống, sức khỏe và sự phát triển tối ưu của bà mẹ và trẻ nhỏ.
- Điều luật quy định trường hợp người vợ “đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” mà không phân biệt đứa trẻ đó là con của ai (con chung của vợ chồng hay con riêng của vợ với người khác).
- Do đó, trong thời gian đứa trẻ chưa đủ 12 tháng tuổi, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện nếu người chồng đơn phương yêu cầu ly hôn.
Các trường hợp ngoại lệ để giải quyết quan hệ hôn nhân:
- Thuận tình ly hôn: Pháp luật chỉ hạn chế quyền đơn phương ly hôn của người chồng, không hạn chế quyền yêu cầu của người vợ hoặc quyền đồng thuận của cả hai bên. Do đó, nếu người vợ tự nguyện ký đơn hoặc nộp đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án vẫn thụ lý giải quyết bình thường.
- Chờ đứa trẻ đủ 12 tháng tuổi: Sau khi đứa trẻ tròn 12 tháng tuổi, sự hạn chế quyền của người chồng chấm dứt. Lúc này, người chồng hoàn toàn có quyền đơn phương nộp đơn khởi kiện xin ly hôn theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Khuyến nghị từ Luật sư:
Trong tình huống phức tạp này, người chồng cần bình tĩnh xử lý theo lộ trình pháp lý như sau:
- Khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền yêu cầu không công nhận quan hệ cha con:
- Xử lý quan hệ hôn nhân: Trao đổi, thỏa thuận với người vợ để lập hồ sơ Thuận tình ly hôn; Nếu người vợ không đồng thuận, người chồng cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ khởi kiện Đơn phương ly hôn và nộp đơn khi đứa trẻ đủ 12 tháng tuổi.
Có thể giải quyết chung trong một vụ việc hoặc tách ra giải quyết riêng tuỳ thuộc vào vấn đề pháp lý thực tế của bạn.
Bài viết được thực hiện bởi Nguyễn Thị Tình – Luật sư tại Công ty Luật Thiên Thanh
Hotline/Zalo : 090.321.7988
Email : [email protected]
Hoặc đến trực tiếp văn phòng của Chúng tôi tại:
Hà Nội : Phòng 302, tầng 3, 142 Lê Duẩn, phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội
Hồ Chí Minh : Phòng 6.16 RiverGate Residence, số 151 – 155 đường Bến Vân Đồn, Phường Khánh Hội, Hồ Chí Minh
